Trung tướng Lê Hữu Đức nói về Đại tướng Võ Nguyễn Giáp: Làm gì có lợi cho dân thì làm
Trong ký ức của ông, Đại tướng có 2 điều mà hiếm ai có được, đó là sự dân chủ và một đầu óc mở, không bao giờ duy ý chí. Ông sẵn sàng lắng nghe tất cả. “Từ một anh Trung đoàn phó, đến trận Điện Biên Phủ được làm việc thường xuyên với Đại tướng, chính ông là người đã đào tạo tôi trở thành một Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là công lao của Đảng, của Bác Hồ, nhưng trực tiếp là Đại tướng Võ Nguyên Giáp”
“Tôi được gặp Đại tướng lần đầu năm 1954, lúc đó ông đang là Tổng Tư lệnh, ngoài chỉ huy trực tiếp chiến trường Điện Biên Phủ, còn chỉ huy trên các chiến trường xa. Lực lượng lúc đó phải chia làm hai, ngoài đại bộ phận cơ quan tham mưu hậu cần chính trị ở lại phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ thì 4 người, trong đó có 2 cán bộ quân báo (nay là Tổng cục II) và 2 cán bộ Cục Tác chiến lập thành một tổ công tác phụ trách thông tin các chiến trường xa.
![]() |
| Trung tướng Lê Hữu Đức (ngoài cùng bên trái) lúc đó là Cục trưởng Cục Tác chiến, trong một buổi làm việc với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. |
Tôi lúc đó là Trung đoàn phó được chỉ định làm tổ trưởng. Chúng tôi được phân công theo dõi chiến trường Quân khu 5 (cả Tây Nguyên), Bình Trị Thiên, Trung Hạ Lào, Nam Bộ, Đông Bắc Miên. Trước khi Điện Biên Phủ nổ súng, tôi không được gặp ngay Đại tướng, mà báo cáo phải qua thủ trưởng của tôi, lúc đó là Cục trưởng Cục Tác chiến, nay là Thượng tướng Trần Văn Quang. Nhưng khi chiến dịch bắt đầu nổ ra, tôi không phải qua Cục trưởng nữa, mà được trực tiếp báo cáo với Tổng Tư Lệnh, không quy định giờ giấc nào cả. Bất cứ khi nào tiếng súng Điện Biên Phủ vắng đi là tôi lên báo cáo tình hình các chiến trường xa. Có thể là sáng, trưa, tối, khuya…”.
Trung tướng Lê Hữu Đức nhớ lại tâm trạng lo lắng khi lần đầu tiên một Trung đoàn phó được gặp Tổng Tư lệnh. “Tôi chuẩn bị tâm lý chắc mỗi lần báo cáo đều phải bị “cạo” cho một trận, vì ngày xưa mình là cán bộ Tiểu đoàn, Đại đội đã bị cán bộ Trung đoàn, Quân khu… xạc rồi, giờ còn gặp đến Tổng Tư lệnh. Nhưng không! Ông mệt mỏi nhiều việc, nhưng 1, 2 giờ sáng vẫn tỉnh táo ngồi nghe mình trình bày, cái nào đúng thì biểu dương ngay, cái nào không đúng ông hướng dẫn thêm.
Từ sau chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi làm việc gần ông 20 năm, không bao giờ ông mắng, không bao giờ đập bàn, sẵng giọng. Không chỉ với các cán bộ trẻ như chúng tôi, mà với cả các đồng chí ở quân khu xa về, bao giờ cũng thế, ông yêu cầu Cục Tác chiến bố trí để nghe tất cả báo cáo. Miền
Theo Trung tướng Lê Hữu Đức, những buổi gặp gỡ, báo cáo với riêng Đại tướng ở hai địa chỉ đó không chỉ là nơi bàn chuyện chiến đấu mà còn là nơi để Tư lệnh các chiến trường, cán bộ mặt trận trút hết nỗi niềm. Có những cái trong hội nghị chung người ta không nói, nhưng gặp riêng Đại tướng người ta nói. Kể cả có những điều tâm tư nhất, những cái "lăn tăn" trong chỉ đạo của Quân ủy Trung ương… anh em đều báo cáo thật hết, nhưng Đại tướng không bao giờ nạt nộ.
Đó là nơi họ nhận được sự động viên nhất trí của cấp trên, chứ không chỉ là các mệnh lệnh. “Ông lắng nghe tất cả. Phải nói bác Giáp có một tinh thần dân chủ đặc biệt. Ông không hề phê phán ý kiến nào, kể cả ý kiến khác với mình, mà lắng nghe, gợi ý nói sâu hơn. Ý kiến đó đồng chí nói thế chưa rõ, nói hết đi. Tinh thần dân chủ đó chỉ riêng ông có”.
Một điều nữa làm nên con người đặc biệt Võ Nguyên Giáp, theo Trung tướng Lê Hữu Đức chính là ông có một trình độ văn hóa rất cao. “Ngày xưa cử nhân Luật có mấy người, chỉ tính trên đầu ngón tay thôi. Ông có kiến thức, lại được sớm giác ngộ cách mạng và được Bác Hồ bồi dưỡng, ông có một phương pháp luận hết sức biện chứng, khoa học, tỉ mỉ, không hề phạm một chút sai lầm nào về duy ý chí”.
Về đặc điểm này của Đại tướng, nhà thơ Việt Phương – nguyên là Thư ký của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng suốt từ năm 1947 cho đến khi ông qua đời, người từng rất gắn bó với Đại tướng cũng cho biết: “Ông là người có tư duy độc lập, không thần tượng quá người này người khác ở đời, thần tượng quá thứ lý luận này, thứ tư duy kia. Ông là người “đại nghi” để tìm kiếm “đại ngộ”.
Với Đại tướng, thế giới ca ngợi ông là nhà quân sự đại tài về chiến tranh du kích, một trong những vị tướng vĩ đại nhất mọi thời đại. Với nhiều người, ông là biểu tượng của chữ “nhẫn”. Nhưng với đồng đội, ông còn hơn thế. Không chỉ là một vị tướng vĩ đại, trước hết ông là một con người đã sống một cuộc đời khiến ai nấy đều nể phục, tôn kính, kể cả kẻ thù ông. Với ông, dù đó có là nhiệm vụ gì, miễn là có ích cho dân, ông đều hãnh diện nhận lấy

