Tình yêu của chàng thi sĩ họ Võ và cô gái tật nguyền

Thứ Tư, 17/08/2005, 06:35

Chuyện anh Võ Tấn Phú, 32 tuổi, Phó Ban đại diện của tờ Áo Trắng ở Đà Lạt lặn lội ra tận Phú Xuyên – Hà Tây để thể hiện tình yêu với người phụ nữ tật nguyền và bất hạnh mà anh chưa một lần gặp mặt quả là câu chuyện cổ tích tình yêu…

Một buổi chiều đầu hè, trời nắng nóng. Bỗng, từ phía đầu làng Vĩnh Trung, xã Khai Thái, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây xuất hiện một chàng trai có thân hình ngắn ngủn, cao không quá 1,3m, tay xách nách mang. Một người lùn mà người dân nơi đây chưa thấy ở đây bao giờ. Cả làng đổ xô ra xem. Người đàn ông thấp lùn ấy chính là Võ Tấn Phú. Vì anh làm thơ, là Hội viên Hội Văn nghệ Đà Lạt nên ai cũng gọi anh bằng cái tên yêu quý "Thi sĩ họ Võ". Anh đi đến đâu, giơ tay rối rít bắt quen với người làng tới đó.

Thi sĩ họ Võ rẽ lối vào nhà chị Đào Hồng Ngọt trước hàng trăm con mắt dò xét lẫn ngạc nhiên của dân làng.

Chị Đào Hồng Ngọt, năm nay tuổi gần 40, là người con gái cuộc đời có nhiều bi kịch. Ngọt xinh đẹp và thông minh. Tốt nghiệp THPT chị thi đỗ vào Trường cao đẳng Sư phạm Hà Tây, năm nào cũng được nhận học bổng. Như một định mệnh của tạo hóa sắp đặt, đúng vào kỳ thực tập để tốt nghiệp, chị bị ngã gãy chân, nhưng trong quá trình điều trị lại không kỹ càng. Thế rồi, biến chứng thành căn bệnh viêm đa khớp đã cướp đi tất cả những gì Ngọt đang có trong tầm tay. Chị dứt bỏ mọi thứ nơi thành phố hào hoa vì mặc cảm quá lớn để chạy trốn về quê ẩn dật. Đau khổ từ đó, bi kịch cũng từ đó mà ra. Đời chị đang đẹp thì khép lại sống trong cô đơn, buồn tủi. Chị sống một mình côi cút và nhờ vào cái nghề vẽ tranh thuê, làm thơ, viết văn đăng báo. Ở cái làng này, chị thuộc vào hàng trí thức và hay chữ nhất, nên người ta hay nhờ chị viết thư tình hoặc giấy này, giấy nọ,... Rồi họ cho tiền chị cũng đủ trang trải cuộc sống và thuê hẳn một người về chăm sóc cho mình. Cuộc đời và nghị lực của con người bất hạnh đã thay đổi, chị có được một tình yêu và hy vọng cháy bỏng, cho đến khi được nghe kể về anh thi sĩ họ Võ.

Nước mắt của... “Ngưu Lang, Chức Nữ” thời hiện đại

Trước hết, xin trở lại với cái buổi chiều nắng oi ả ấy. Trước hàng trăm con mắt dò xét của người làng kéo cả vào nhà chị Ngọt, họ bám vào đai cửa, thò đầu lên cửa sổ và xì xào bàn tán. Lạ chưa, chị Ngọt lâu nay vẫn đông khách, nào bạn thơ, bạn văn; cả các phóng viên, nhà báo về phỏng vấn thì chẳng ai thèm để ý. Vậy mà trước sự xuất hiện của chàng thi sĩ có thân hình lùn tủn, họ lại để tâm đến thế.

Anh bước vào, nhẹ nhàng để túi đồ xuống, rồi thẳng tiến vào căn nhà chưa trát vôi nham nhở. Trong nhà, chị Ngọt ngồi đó, hai mắt mở to, miệng ú ớ không nói nên lời, hai hàm răng cắn chặt môi và nước mắt chị ứa ra. Chị nói với giọng run run:
- Anh! Anh Phú!
- Anh ra với em nè!
Chị nhào ra mép giường với sức lực cuối cùng của người con gái tật nguyền. Anh đón chị khỏi ngã xuống đất. Rồi họ ôm ghì lấy nhau.
- Em tưởng những lá thư ngọt ngào của anh cũng chỉ là hư vô, là động viên em mà thôi, cũng như người khác thương hại em!
- Không! Đời này, còn anh tin ở em mà.

Một con người, nhiều cuộc đời

Thi sĩ họ Võ đã chiêm nghiệm rất nhiều ở đời. Anh nói rằng rất vui khi được chị Ngọt đáp lại bằng tình yêu cháy bỏng, vượt qua mọi mặc cảm và bao toan tính thiệt hơn xuất phát từ anh. Anh bảo, đời anh đau khổ đủ rồi, nên anh hiểu và đồng cảm với chị.

Bạn bè văn chương của anh thường kể: Thi sĩ họ Võ này đạt đến cảnh giới cao về tình yêu là vì anh bất hạnh quá sớm.

Chuyện rằng, năm Phú 3 tuổi cũng là lúc bố mẹ cho cậu đi ở với bà dì cùng họ tộc tận Bình Định. Từ đó, cậu bé bắt đầu cuộc đời "què quặt" về tình thương và tương lai. Xa hơi ấm của cha mẹ, không có được cảm giác hạnh phúc và sự chiều chuộng, Phú trở nên mặc cảm. Ở với bà dì một thời gian, cậu bé nhớ nhà quá. Có lần trốn dì bỏ đi Đà Lạt tìm gia đình, nhưng bé quá không biết nhà ở đâu mà tìm. Cậu cứ lang thang xin ăn cho đến lúc bị bắt trở lại Bình Định mới thôi. Cứ thế, ba lần sau cậu trốn nhà đi là ba lần không thành.

Hơn nữa, sau những lần đó, khi trở lại gia đình bà dì, cậu lại bị ông anh họ (con trai bà dì) đối xử rất tàn nhẫn, đánh đập không tiếc tay. Vừa hận, vừa mặc cảm với vóc người bé nhỏ, cậu bỏ học từ năm lên lớp 6. Thời gian sau đó là chuỗi ngày cơ cực đối với cậu bé. Cho đến 11 tuổi, nhớ mẹ quá, từ ngày đến ở với dì Phúc có gặp lại mẹ, gặp lại gia đình lần nào đâu. Và cậu quyết định cho một chuyến đi... Đây là lần thứ 5 Phú ra đi, cũng là lần trót lọt. Cứ thế, ròng rã một tháng trời đi bộ từ Bình Định vào Đà Lạt hơn 700 cây số, không tiền, đi đến đâu cậu xin cơm ăn và nước uống tới đó.Cậu vào đến thành phố Đà Lạt cũng là lúc không biết gia đình mình chuyển đi đâu. Đau khổ, lỳ lợm dần với cảnh sống hoang dã, Phú làm đủ nghề để tồn tại.

Năm 1997, anh chuyển hẳn sang bán vé số ở Đà Lạt, để sống qua ngày. Trong những ngày ở đầu đường xó chợ, mỗi cung đường bán vé số dạo là mỗi lần anh va đập với đời, nghe đủ chuyện, mang đủ mọi cảm xúc. Lúc thì tột cùng của sự đau khổ hay vì vui sướng và hưng  phấn đến đỉnh điểm, ở đâu đó trong đầu anh chàng bán vé số thông minh lại lóe lên câu thơ rất tâm trạng:

Anh qua nửa đời hơn thiệt
Một mình nhưng không cô đơn
Bạn bè mến thương nhiều lắm
Chia nhau cả những giận hờn!
(Một mình không cô đơn)

Mãi sau này, khi thơ của anh được nhiều người biết đến, đăng báo nhiều, hiện anh là cộng tác viên của hơn 20 tờ báo từ địa phương đến trung ương, nhưng nguồn thu nhập chính vẫn là bán vé số dạo (ngày bán 100 vé, thu lời 24.000đ) cũng đủ sống qua ngày. Cuộc sống của thi sĩ họ Võ vẫn âm thầm chịu đựng, anh tự thu mình lại, phương châm sống của anh là: không thích hơn ai, nhưng lại cố gắng hơn ai hết để đọc, để nghiên cứu sách vở, tài liệu  nhằm có thêm kiến thức mà tuổi thơ của anh phải chịu thiệt thòi, không được học tập như người khác. Thế nên, hai năm gần đây, anh là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Đà Lạt, viết thường trực nhất cho báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam với nhiều bài lý luận phê bình, tiểu luận. Cái  khí tiết âm ỉ luôn cháy bỏng trong con người anh. Anh làm bạn với tất cả mọi người ở thành phố Đà Lạt này. Thế nên nhiều người quấn quít với anh không chỉ để nghe anh đọc thơ hay bình văn mà còn là tình bạn keo sơn. Hiện tại công việc của anh là quản lý một nhóm phóng viên, cộng tác viên của báo Áo trắng - Nhà xuất bản Trẻ.--PageBreak--

Tiền bạc, công danh anh coi nhẹ lắm. Thế mới có chuyện ở Đà Lạt hiện nay rất nhiều người không biết anh là ai, có nghĩa là làm nghề gì là chính. Vì một lẽ, họ thấy anh làm đủ nghề: bán vé số thì từ lâu rồi, nhưng lại có người gọi anh là Phú thi sĩ, Phú nhà văn với nhiều truyện ngắn, thỉnh thoảng thấy anh đi với nhiều nhà văn, đi họp ở Hội Văn học nghệ thuật. Thỉnh thoảng, anh ăn mặc chỉn chu đi với cán bộ xuống thực địa, hay đi với công an xuống địa bàn.

Đặc biệt, giới “giang hồ” Đà Lạt gọi anh là Phú “đại ca”. Anh kể, anh có biệt danh này cũng có nguyên do, vì thơ anh đánh động đến nhiều mảnh vỡ cuộc đời nên nhiều người biết, anh kết giao bằng hữu với đủ giới, không phân biệt ai. Anh cũng chơi với một số trùm “giang hồ” đã rửa tay gác kiếm, nên nhiều vụ choảng nhau giữa giới côn đồ Đà Lạt và Sài Gòn phải nhờ anh Phú dàn xếp. Anh nói một câu thôi là cuộc hỗn chiến dừng ngay. Từ quan hệ với giới anh chị, vô hình trung anh đã biến thành người hòa hiếu cho dân “giang hồ” lúc nào không hay.

Nỗi khát khao của người nghệ sĩ

Cách đây 6 tháng, một người đàn bà gốc ở Đà Lạt, sau chuyến làm từ thiện từ nhà chị Ngọt ở Hà Tây trở về. Người đàn bà này hay đi các vùng sâu, vùng xa, nơi có những người tật nguyền kém may mắn để đưa họ về công ty của bà lao động. Nhưng, tiêu chuẩn của bà đặt ra là phải người tật nguyền còn khả năng lao động, ít ra, còn làm ra sản phẩm. Còn người mất hết khả năng lao động như chị Ngọt thì bị loại khỏi danh sách. Việc làm từ thiện của bà chẳng qua là cái cớ để bà xin tiền tài trợ, không phải bỏ đồng vốn nào mà thành lập công ty từ nguồn tài chính quyên góp từ thiện của Nhà nước và cá nhân, tổ chức hảo tâm. Bà về Đà Lạt, tìm anh Phú kể về con người và hoàn cảnh của Ngọt, Phú viết thư động viên và chia sẻ. Cứ như thế, tuy chưa một lần gặp mặt, nhưng tình cảm của hai người ngày càng thêm mặn nồng, có những thư chị Ngọt viết thế này:

-“Anh Phú yêu của em!
Em không thể tin được mình lại có một người đàn ông tốt bụng hiểu em và yêu em chân thành. Em đang mơ hay tỉnh đây hả anh? Em cứ tưởng đời em thế là hết, là chìm trong cô đơn... Em nhớ và mong anh sớm ra với em”.

Thi sĩ họ Võ viết lại:

- “ Em!
... Anh cũng tin vào tình yêu chúng mình sẽ thành hiện thực:
Chạnh lòng với anh chi nữa
Về đi kẻo muộn rồi em
Ở nhà chồng con đợi cửa
Trà mi vỡ cánh đầy thêm"...
(Như một giấc mơ)

Chị Ngọt viết thư đáp lại:

“Anh Phú!
Xin đừng bi quan như thế! Em cũng là con người bất hạnh, cũng hiểu được giá trị của sự đau khổ, và thấy cần phải trân trọng những gì mình làm. Em sẽ sáng tác, sẽ sống tốt hơn để chờ đợi anh”.

“Anh! Đây là lá thư thứ 5 em gửi cho anh. Lá thư này, em kèm theo một bản đồ chỉ lối vào nhà em, anh nhé”.

* * *

Sau đó, chị gửi tiếp hai lá thư nữa không thấy anh trả lời, chị Ngọt hoang mang, hay là chàng thi sĩ họ Võ chỉ trêu đùa trên tình cảm chân thành của chị. Không đâu, những lời của anh chân thành lắm, yêu thương lắm, những ngày đó, chị như ngồi trên đống lửa.

Còn anh, bây giờ kể lại, mặc dù nóng lòng, nhận được thư chị nhưng cố kìm nén nhớ nhung để tạo cho người yêu sự bất ngờ lớn. Đó là chính anh ra tận nơi chị ở và ngỏ lời cầu hôn:
- Em yêu! Hãy đồng ý chung sống với anh được không?
- Nhưng! Anh ơi, một người bỏ đi như em thì làm được gì. Chỉ là gánh nặng của anh thôi. Em nói rất thật, xin anh hãy như những người đàn ông khác, đến chỉ để yêu em là được rồi. Em cũng yêu anh, nhớ anh, và em cảm thấy đời này đáng sống!...
- Vậy, thì tại sao? Xin em đừng từ chối, chúng ta có bạn bè, có trái tim và khối óc, để yêu nhau và để tính toán làm ăn. Anh còn đôi bàn tay, em còn viết được, vẽ được, chúng ta sẽ sống được.
- Nhưng anh ơi! Em không đủ dũng khí để vượt lên đâu!...
Cứ như thế, khó khăn lắm anh mới có được sự nhận lời. Trong cuốn nhật ký anh chép lại mọi sự việc xảy ra 15 ngày khi hai người sống chung cùng nhau. Anh viết rằng đã vui sướng tột cùng khi được chị nhận lời chung sống cùng anh. Trong cuốn nhật ký, anh còn ghi những công việc chăm sóc người yêu của anh, từ rửa bát, vệ sinh cá nhân. Vì thế, chị càng yêu anh hơn. Và cũng trong thời gian ấy, anh đã chụp ảnh nghệ thuật về chị, những bức ảnh long lanh vẻ đẹp của chị. Bạn bè anh nói, 15 ngày, một người đàn ông, một người đàn bà khát khao nhau đến da diết ở gần nhau. Mặc dù họ rất yêu nhau, ở gần nhau mà không xảy ra chuyện gì thì thật là đẹp đẽ, hiếm thấy trong đời!

* * *

Khi tôi ngồi viết bài này thì chàng thi sĩ họ Võ đã chia tay với người yêu lên đường vào lại Đà Lạt để chuẩn bị một đám rước dâu. Cũng cung cấp thêm cho bạn đọc, do hoàn cảnh độc thân, nên sau khi ra Bắc gặp người yêu trở về, các cấp chính quyền ở Đà Lạt, các tổ chức nhân đạo, các ban ngành, và đặc biệt là bạn bè văn chương khắp trong Nam ngoài Bắc sẽ tụ lại, kể cả giới “giang hồ” Đà Lạt, đến tổ bán vé số, tổ xa cha mẹ,... sẽ cùng nhau lo tổ chức một đám cưới cho anh ngay tại Đà Lạt - một đám cưới chưa từng xảy ra trong lịch sử thì nay, sẽ dành cho cặp uyên ương này. Tôi cũng mong hạnh phúc của anh chị sớm thành hiện thực. Anh sớm đón chị về để hai mảnh vỡ của hai cuộc đời bất hạnh sẽ làm nên một “cổ tích” tình yêu giữa thời hiện đại mang đậm dấu ấn nhân văn, đẹp đẽ

N.V.T
.
.
.