Nữ Việt kiều duy nhất ở Chi Lê: Khát vọng ngày về

Chủ Nhật, 08/11/2009, 11:34
Rất tình cờ bên lề diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Chi Lê với sự tham dự của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tổ chức tại thành phố Xan-ti-a-gô (thủ đô nước Cộng hòa Chi Lê), tôi gặp chị. Thoáng qua, nếu như không có sự giới thiệu của các anh bên Bộ Ngoại giao, tôi ngỡ tưởng chị là một phụ nữ Nhật Bản hay Hàn Quốc hoặc một doanh nhân người Hoa mang quốc tịch Chi Lê.

35 năm trôi đi, kể từ ngày xa Tổ quốc, nhưng từ giọng nói, nụ cười đến cách ăn mặc… chị vẫn giữ nguyên phong cách của một người phụ nữ Việt Nam. Biết chúng tôi là những nhà báo Việt Nam đi theo đoàn, chị niềm nở kể về cuộc sống của chị ở nơi đất khách, quê người.

Chị là Nguyễn Thị Phụng, một Việt kiều duy nhất đang sinh sống tại Cộng hòa Chi Lê, cách xa Tổ quốc nửa vòng trái đất với 29 giờ bay. Sinh trưởng trong một gia đình mà cả cha và mẹ đều là người Việt ở quận 5, Sài Gòn. Cũng như nhiều bạn bè cùng trang lứa, tuổi thơ của chị là những ngày cắp sách đến trường. Sau những giờ ở lớp về nhà chị làm đủ việc phụ giúp cha mẹ để kiếm thêm tiền trang trải cuộc sống.

Mùa xuân năm 1975, Sài Gòn và miền Nam hoàn toàn giải phóng cũng là lúc chị tròn tuổi đôi mươi, cái tuổi mà bây giờ chị vẫn tự hào, rực rỡ như một đóa hoa hồng. Đó cũng là thời điểm chị vừa tốt nghiệp trường phổ thông trung học. Trong lúc chờ thi vào đại học thì chị đã lọt vào đôi mắt xanh của một chàng trai người Pháp, lúc đó đang công tác tại tòa Đại sứ quán Pháp tại thành phố Sài Gòn.

Anh yêu chị cũng rất tình cờ trong một lần ngồi tán gẫu cùng tốp bạn ở một quán giải khát ven đường. Qua câu chuyện, qua ánh mắt, nụ cười, chị chợt nhận ra rằng, chàng trai người Pháp đã thổ lộ tình yêu với chị. Đêm ấy chị trằn trọc không sao ngủ được. Hình ảnh về một chàng trai ngoại quốc với những cử chỉ lịch lãm cứ như thước phim đèn chiếu khiến chị thao thức.

Và rồi cái gì đến sẽ đến, tình yêu của họ cứ lớn dần theo năm tháng. Mùa xuân năm 1976, tròn một năm yêu nhau, đám cưới của họ được tổ chức trong vòng tay ấm áp của bạn bè và những người thân trong gia đình. Tổ chức đám cưới xong, chị theo chồng về sống tại thành phố  Paris (thủ đô nước Pháp). Tại đây, 2 đứa con của chị lần lượt cất tiếng khóc chào đời.

Vì chồng công tác trong ngành thương mại nên chị có niềm vui được theo chồng đến với nhiều quốc gia trên các châu lục. Năm 1991, chồng chị được cử sang Chi Lê làm tham tán thương mại, chị được hưởng xuất "ăn theo". Hết hạn công tác ở Chi Lê cũng là thời điểm chồng chị đến tuổi nghỉ hưu. Hai vợ chồng chị không về Pháp mà xin định cư tại Chi Lê.

Trả lời câu hỏi của chúng tôi, tại sao anh chị lại chọn Chi Lê làm bến đỗ của cuộc đời mình? Chị Nguyễn Thị Phụng nói:

- Với tôi, mọi cái ở đây đều rất phù hợp. Khí hậu dễ chịu, môi trường, cảnh quan sạch sẽ và đẹp mắt. Giá cả các mặt hàng so với nhiều nước đều rẻ. An ninh ở Chi Lê cũng rất tốt. Còn người dân Chi Lê thì rất thân thiện.

Vẫn theo chị Phụng thì thời điểm mà vợ chồng chị xin định cư tại Chi Lê, ở thành phố Xan-ti-a-gô có khoảng hơn chục người Việt Nam sinh sống. Họ đến Chi Lê bằng nhiều con đường khác nhau. Có người đến Chi Lê từ trước năm 1975, có người đến Chi Lê theo sự phân bổ của cơ quan Cao ủy Liên hợp quốc về người tỵ nạn. Rồi lại có người cùng chung hoàn cảnh như chị.

Thời đó, tuy người Việt ở Chi Lê rất ít, nhưng rất gắn bó với nhau. Song mấy năm gần đây do hoàn cảnh xô đẩy, mọi người lần lượt tìm đến các nước Nam Mỹ khác sinh sống và làm ăn. Hiện tại ở Chi Lê ngoài các cán bộ đang công tác ở Sứ quán Việt Nam tại Xan-ti-a-gô, chị là người Việt Nam duy nhất sinh sống ở đây.

Sống xa Tổ quốc nửa vòng trái đất, nhiều lúc chị nhớ nhà, nhớ quê hương và người thân da diết, nhưng đành chịu. Rất may là những năm gần đây, quan hệ giữa Việt Nam và Chi Lê ngày một phát triển, tình cảm mà Chính phủ và người dân Chi Lê dành cho Việt Nam rất sâu đậm đã giúp chị vơi đi phần nào nỗi buồn và cô đơn ở xứ người.

Đặc biệt là từ khi Chính phủ có quyết định mở Sứ quán Việt Nam tại thủ đô Xan-ti-a-gô, vợ chồng chị coi đó vừa là quê hương, vừa là ngôi nhà thứ 2 của mình. Hầu như không có tuần nào mà chị lại không có mặt ở sứ quán. Mỗi lần đến gặp các cán bộ Việt Nam công tác ở sứ quán là mỗi lần chị thấy vui vui, nhất là vào những ngày Tết, ngày lễ. Còn các anh, các chị ở sứ quán cũng coi chị như những người thân trong nhà.

Chị bảo nhiều lúc ra phố hay đi chợ, nhiều người dân Chi Lê gặp chị cứ nghĩ chị là phụ nữ Nhật Bản hoặc Hàn Quốc, nhưng khi nghe tôi trả lời: Tôi là người Việt Nam, ai cũng trầm trồ bày tỏ sự thiện chí với một tình cảm tốt. Thậm chí nhiều người còn kể cho tôi nghe về những mẩu chuyện, tin tức về Việt Nam mà họ vừa đọc trên báo hoặc vừa được thấy trên tivi. Sống ở xứ người với một môi trường văn hóa khác lạ, nhưng ở chị người ta vẫn dễ dàng nhận ra những tố chất vốn có của người phụ nữ Việt Nam: Đôn hậu và chịu thương, chịu khó.

Làm từ thiện ở xứ người

Chị Phụng kể: Chi Lê là một trong số 3 quốc gia Nam Mỹ có nền kinh tế phát triển. GDP tính theo đầu người đạt tới hơn 10 nghìn USD/năm. Tuy nhiên, bên cạnh những người giầu có và thành đạt, đất nước "hình thanh kiếm" này vẫn còn nhiều người nghèo.

Trong thành phố và ở các vùng ngoại ô, các địa phương xa xôi, hẻo lánh bên cạnh những cao ốc, nhà hàng, khách sạn và những ngôi biệt thự sang trọng nằm ven các triền núi đâu đó, rải rác trong các con phố và các làng quê vẫn tồn tại các căn nhà ổ chuột dành cho người nghèo. Nhiều trẻ em con nhà nghèo đã không được đến trường. Nhiều người dân vẫn phải mưu sinh bởi các nghề lao động nặng nhọc và thiếu những điều kiện bảo hiểm về y tế, xã hội.

Chị Nguyễn Thị Phụng chụp ảnh kỷ niệm với nhà báo và các nhà doanh nghiệp Việt Nam tham dự diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Chi Lê. Ảnh: Minh Phương.

Mỗi lần ra đường gặp những cảnh đời như thế là mỗi lần chị thấy cần phải làm gì để giúp cho họ vượt qua những cơn khốn khó. Đây cũng là lý do để chị tự nguyện tham gia vào tổ chức từ thiện của thành phố.

Hai vợ chồng chị đều đã nghỉ hưu và sống bằng tiền lương hưu, có chỗ ở ổn định, nhưng được chồng cổ vũ và ủng hộ, hàng tháng vợ chồng chị trích một phần lương hưu đóng góp vào quỹ từ thiện của thành phố và tự nguyện làm việc không nhận tiền thù lao cho tổ chức từ thiện. Ở thời điểm này, mặc dù vợ chồng chị, tuổi đã cao, sức khỏe đã có phần giảm sút, song sau mỗi chuyến đi làm những việc thiện, cứu trợ người nghèo, chị cảm thấy khỏe ra.

Theo chị thì nhờ có những chuyến đi như thế mới giúp chị hiểu thêm bao số phận, bao cuộc đời cần sẻ chia, tiếp cận được các giai tầng của xã hội.

Là một phụ nữ Á Đông, đôn hậu, chất phác và thủy chung, ở Chi Lê chị càng thấu hiểu những nỗi vất vả, gian truân của những người đồng giới mà chị đã gặp trong những chuyến đi cứu trợ. Họ cũng có gia đình, có con em, nhưng cuộc sống của nhiều người còn bức xúc. Gặp họ, chị không chỉ chia sẻ tâm tư, tình cảm, bày tỏ sự cảm thông mà còn âm thầm, lặng lẽ vận động, quyên góp tiền, vật chất để chia sẻ với gia đình họ.

Chị bảo: Sau nhiều năm sinh hoạt ở hội từ thiện thành phố, đã giúp chị đến được với nhiều nơi ở đất nước Chi Lê xinh đẹp và thân tình. Người dân Chi Lê mỗi lần gặp chị, biết chị là người Việt Nam ai ai cũng cảm phục về ý chí quật cường của nhân dân Việt Nam trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như những thành quả của công cuộc đổi mới hiện nay.

Thậm chí có người còn kể với chị về chuyến thăm Việt Nam của ông A-gien-đê khi ông còn đảm đương cương vị của một Thượng nghị sĩ. Cảm phục biết bao, chuyến đi của ông diễn ra đúng vào lúc Hà Nội và nhiều thành phố khác ở miền Bắc Việt Nam đang hàng ngày phải hứng chịu những trận ném bom khủng khiếp của không quân Mỹ. Tại chuyến đi ấy, ông A-gien-đê và các thành viên trong đoàn có vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thân mật.

Sau chuyến đi ấy, trong cuộc bầu cử Tổng thống, Liên minh đoàn kết nhân dân bao gồm Đảng xã hội, Đảng cộng sản, Đảng xã hội - dân chủ và một số tổ chức quần chúng nhân dân khác đã giành được thắng lợi. Và ông A-gien-đê, người con ưu tú của Chi Lê được bầu làm Tổng thống.

Sau khi giành thắng lợi, Chính phủ A-gien-đê đã tiến hành cải cách kinh tế - xã hội, cải thiện đáng kể đời sống cho nhân dân lao động và tích cực ủng hộ các phong trào giải phóng dân tộc; nhưng tiếc thay, được sự trợ giúp của các thế lực đế quốc ở bên ngoài, các thế lực phản động ở Chi Lê, đứng đầu là Pi-nô-chê đã làm cuộc đảo chính quân sự lật đổ Chính phủ A-gien-đê.

Giờ đây tại dinh Tổng thống ở thủ đô Xan-ti-a-gô, người ta vẫn lưu giữ căn phòng mà Tổng thống A-gien-đê đã chiến đấu và hy sinh anh dũng trước họng súng của quân thù. Câu chuyện mà chị Phụng kể đã khiến tôi sực nhớ đến những dòng chữ mà các phương tiện truyền thông loan tin: "Cố Tổng thống A-gien-đê" vừa được bầu chọn là "Người Chi Lê vĩ đại nhất trong lịch sử".

Ước vọng trở về

Trong câu chuyện với chúng tôi, chị Phụng bảo rằng: "Quê hương bao giờ cũng là chùm khế ngọt, muốn về lắm", nhưng tiếc rằng, Chi Lê và Việt Nam cách nhau xa quá. Hơn nữa 2 nước lại chưa mở đường bay, do vậy muốn về Việt Nam phải trải qua nhiều chặng.

Mặc dù vậy bằng nhiều nguồn, vợ chồng chị vẫn thường xuyên theo dõi tình hình ở trong nước; vui với những thành tựu đạt được, nhưng cũng đau, buồn mỗi lần nghe tin ở trong nước phải hứng chịu những hậu họa do thiên tai gây ra, nhất là các trận bão gần đây gây thiệt hại lớn về người và tài sản cho đồng bào các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.

Chị nói: Mấy năm trước, chuyện về Việt Nam xem ra là cả một câu chuyện dài và khó trăm bề. Còn bây giờ, sứ quán của ta đã đặt tại thủ đô Xan-ti-a-gô, tiện lắm. Việc cấp thị thực về nước không phải bay đến nước thứ 3 có Sứ quán Việt Nam mà chỉ đi đoạn đường từ nhà đến trụ sở sứ quán ta ở Xan-ti-a-gô. Do vậy một ngày không xa, sau khi thu xếp được công việc, vợ chồng chị sẽ có chuyến về thăm quê hương đất nước.

Chị ao ước được sống với những kỷ niệm của thời còn chung lớp, chung trường, gặp lại những người thân trong gia đình và bạn bè thân thích từ thuở học trò, được ăn các món ăn Việt Nam mà ngày xưa mẹ chị vẫn nấu, rồi được tận hưởng những phút giây thanh bình, quyến rũ ở chính nơi mà chị đã sinh ra và lớn lên.

Nơi ấy là đất mẹ Việt Nam.

L.V.
.
.
.