Nhớ lại nạn đói năm Ất Dậu (1945)
Sáu mươi năm đã qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vượt qua bao khó khăn để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Có ngày hôm nay, thiết tưởng chúng ta nên nhớ đến cái nạn đói năm 1945 ấy.
Tôi muốn nói đến quê tôi, làng Yên Bài (nay là xã Sơn Ninh), huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Cũng như bao làng quê khác của Nghệ Tĩnh, thời Pháp thuộc, hầu như vài ba năm lại có một năm đói kém, cả huyện chết đói dăm mười người là chuyện bình thường. Nhưng chỉ ít lâu sau, gạo Thanh Hóa, gạo Nam Kỳ theo con buôn tràn về, gạo nhà giàu đổ ra bán, thị trường gạo lập tức bình ổn. Năm 1943 và vụ chiêm 1944, Nghệ Tĩnh được mùa lớn, nhưng gạo không nhiều vì một phần khá lớn diện tích cấy lúa bị nhà nước thực dân bắt chuyển sang trồng lạc (đậu phộng) để thu mua. Tuy vậy, người dân chờ có gạo Nam Kỳ chuyển ra nên chẳng ai nghĩ đến đói.
Chuyện chết đói ở một làng quê
Tháng 9/1944 (tháng 8 Giáp Thân), lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), vỡ luôn đê sông Cả (Nghệ An). Sau lụt, gạo đã hơi cao. Đến khoảng tháng 10/1944, dân buôn đường dài từ tỉnh Thanh trở về, méo mặt vì không mua được gạo và lan truyền tin đồn: Bắc kỳ phải nhổ lúa trồng đay như Nghệ Tĩnh ta phải dành ruộng trồng lạc. Pháp - Nhật ban bố lệnh cấm vận chuyển gạo, nên Bắc kỳ và Nghệ Tĩnh có nguy cơ đói to.
Người chết đói và người chờ chết trên một đoạn đường Hà Nội năm 1945.
Tháng 11/1944, giá gạo "phi nước đại". Nạn đói bắt đầu. Nhà khá giả phải ăn dè sẻn, bớt khẩu phần, độn thêm ngô, khoai, bầu, bí. Nhà nghèo phải rau cháo. Chợ búa thấy bày bán các loại đồ dùng gia đình, như nồi niêu, bát đĩa; kể cả đồ thờ cúng như lư hương, chân đèn, v.v... để lấy tiền mua gạo.

Tết Nguyên đán Ất Dậu (1945), thảm kịch đã hiện ra trước mắt. Tôi chưa thấy một cái tết nào ảm đạm như vậy trong lịch sử. Hơn 2/3 số gia đình trong làng không có bánh chưng, thịt mỡ, trong đó nhiều nhà không có cả cơm ăn. Làng xóm tiêu điều. Sau tết vài ba ngày, trong làng bắt đầu có người chết đói. Giá gạo lên nhanh, chưa quá nửa phiên chợ không còn một hạt gạo nào để bán. Các cửa hàng gạo, ngô ở thị trấn, thị xã và cả ở thành phố Vinh, nhất loạt đóng cửa, vì không có cái để bán. Người mua gạo chỉ trông chờ vào những bơ gạo lẻ của một số gia đình bớt ăn, bán để mua đồ đạc, ruộng vườn của một số người nghèo, hoặc gạo, thóc của một số nhà giàu bán để lấy tiền tậu ruộng.
Giá gạo từ 25 đồng (đồng bạc Đông Dương) một tạ khởi điểm, đến đầu tháng Giêng, Ất Dậu đã lên tới 600 đồng. Nhà cửa, ruộng vườn, v.v... tụt giá nhanh chóng. Bán 1 sào ruộng chỉ mua được vài chục kilôgam gạo. Rau màu ăn sạch; lợn gà, ngan ngỗng không còn bóng dáng, vì không có gì để nuôi. Trâu, bò bán cả con với giá quá rẻ, người ta mổ thịt ăn thay cơm.
Gia đình tôi, trung nông lớp trên, trước đây tuy có độn ngô khoai, nhưng ngày 3 bữa ăn no, thì tháng Giêng năm Ất Dậu, bữa sáng phải định suất một tô cháo loãng, trưa một bát cơm, tối cũng chỉ một bát cơm. Đến bữa ăn, mẹ tôi phải bí mật đưa vào buồng kín để chia, sau đó ai ăn cũng phải bí mật. Hễ động bát đũa là những người đói ùa vào, vừa xin, vừa cướp. Cảnh người chết đói bắt đầu diễn ra.
Người chết đói càng về sau càng nhiều. Những người còn sống tìm mọi thứ có thể ăn được để ăn cắp. Bản thân tôi cũng vậy. Trước hết là món “lớ” (ngoài Bắc gọi là hạt thóc lửng), những hạt thóc lép, mầm hạt bị teo lại trong vỏ trấu, được sàng sảy ra để cho vào bếp lò, hay quẳng cho gà, vịt nhặt. Lúc này người ta đem rang vàng, giã nhỏ, cho thêm vài hạt muối để làm món ăn. Cũng có thơm mùi gạo rang, nhưng quá nhiều bột trấu “xi lích”, nên rất khó nuốt. Một thìa “lớ” vào miệng lại phải chiêu vài ngụm nước mới nuốt trôi. Được cái no lâu vì khó tiêu. Nhưng đấy là món của những gia đình trung nông lúc đó mới có. Còn bần nông, cố nông thì dường như chỉ ăn rau và củ chuối. Họ ăn đến cả những cây giống mới trồng như: dây khoai lang, mầm cây dong riềng. Cứ có được những thức đó là băm nhỏ nấu lên. Nhà nào còn chút ít gạo, cám thì cho vào một nắm. Gọi đó là cháo rau thì quá sang, gọi là canh rau cũng chẳng phải. Món củ chuối lẫn thân cây băm nhỏ, luộc thay nước vài lần cho đỡ chát, thêm nhúm muối trở thành bữa ăn chính. Một số người lên rừng chặt cây “khủa”, bóc vỏ, băm rồi giã nhỏ, chắt lấy nước, đun cô lại, thành một thứ hồ loãng sền sệt, cho thêm nắm bột khoai, tấm, cám... làm thành bánh, ăn thay cơm. Thân cây đu đủ băm nhỏ, luộc chín, thêm nhúm muối cũng trở thành món nộm ăn trừ bữa.
Rồi đến món củ nâu. Củ nâu là một dạng củ ở trên rừng, bổ ra như củ khoai mỡ, màu nâu, lắm nhựa, chát thắt cuống họng thường được giã nhỏ ngâm nước nhuộm vải, hoặc xảm thuyền. Để ăn được, sau khi giã, người ta đem ngâm ở ao hồ cho đến khi có mùi thum thủm, vớt lên luộc bỏ nước 5 đến 6 lần, sau đó cho vào chõ, thêm nắm cám, nắm tấm hoặc bột “khủa” đồ lên để ăn. Khi ăn vẫn phải chiêu nước vì chát.
Khoảng giữa tháng ba, trừ trong dinh cơ nhà giàu còn nhà nông thuở ấy, không còn gia súc, gia cầm đã đành, đến rắn rết, chuột bọ, thạch sùng, ếch nhái, châu chấu, cũng sạch hết.
Đã đói cơm, đói rau lại nhạt muối. Những thứ “thực đơn” kể trên nếu có nhúm muối cũng dễ nuốt. Nhưng khốn nỗi, không hiểu sao muối cũng bị cấm, đắt hơn gạo nhiều lần. Nhiều nhà phải lấy tro bếp, nền đất nhà bếp, vốn tích lũy chất mặn trào ra trong quá trình nấu ăn, hòa nước, chắt lấy chất mặn để cho vào rau, cháo.
Người chết đói đầu tiên mà tôi được chứng kiến là ông thợ mộc láng giềng. Ông to khỏe, không bệnh tật, nhu cầu dinh dưỡng cao, nhưng nhường khẩu phần cho vợ con, nên đã phải “ra đi” vào ngày mồng 3 tết. Về sau gia đình ông còn chết thêm 3 người con nữa vì đói.--PageBreak--
Người chết đói trong vùng tăng theo cấp số nhân (khi gạo leo thang từ 800đ lên 1.000đ tiền Đông Dương một tạ). Trường hợp cái chết của anh Đào C. là một ví dụ. Hôm anh C. gần chết rồi, nhưng có ai đó cho anh uống một bát nước cơm nên tỉnh lại. Hai hôm sau mới chịu chết hẳn. Hai đứa con anh cũng chết. Gia đình ông Đậu
Những người chết đói ban đầu còn được bó chiếu đem chôn. Về sau không còn chiếu, bó bằng lá cọ. Cuối cùng thì chôn không có gì bọc ngoài. Ban đầu, gia đình họ hàng đi chôn, còn đào huyệt trong bãi tha ma, sau đói quá, lợi dụng các hố bốc mộ chưa lấp, vùi người chết xuống đấy. Về sau, người sống cũng đuối sức, thì người chết ở đâu thì chôn luôn ở đấy. Vệ đường, ngòi, rãnh đầy những ngôi mộ đắp điếm qua loa, mùi xú uế bao trùm làng xóm.
Cuối tháng 3 Ất Dậu, một số hoa màu sống sót nhờ công canh gác của chủ ruộng đã bắt đầu có thu hoạch non. Khoai lang củ bằng chiếc đũa, ngô trổ cờ ngậm sữa. Người ta lại nghĩ ra mấy món ăn mới, gia đình tôi cũng áp dụng. Củ khoai, rễ cám đổ vào nồi nấu chung. Để chia đều phải dùng đũa cả xéo nhuyễn, rồi đơm ra bát. Thân và lá khoai lang đương nhiên phải dành cho những bà con đói hơn (cảm giác ngon lúc đó tôi không bao giờ gặp lại dù sau này được đi nước ngoài và đã được ăn nhiều của ngon vật lạ).
Lúa chiêm năm Ất Dậu (1945) rất tốt. Người ta nói là nhờ hơi người chết. Nhưng có lẽ vì sạch bách chuột bọ, côn trùng. Chỉ phải cái thu hoạch quá muộn. Đầu tháng 4 âm lịch, thấy lúa chiêm đã ngậm sữa, một số người quá đói bò ra ruộng, bóc đòng lúa ăn ngấu nghiến. Có người gục chết tại ruộng. Ít lâu sau, lúa đặc sữa (chắc xanh), các nhà khá giả cũng không đợi được, gặt về, đập xong phải luộc cho lúa đặc lại rồi mới phơi hoặc rang để thổi cơm.
Đói quá, có cơm một số người ăn no, cũng lăn ra chết...
Tôi không thống kê được số người chết đói năm 1945 trong toàn huyện, toàn tỉnh. Nhưng trong làng tôi chừng 200 nóc nhà, 800 nhân khẩu thì có gần 200 người chết đói.
Tội ác của thực dân
Ngay từ cuối năm Giáp Thân (1944), khi móng vuốt của giặc đói vừa giơ ra thì bộ máy cai trị đã làm ngơ. Người chết đói vào giữa tháng 2 đã nhiều như ngả rạ. Chính quyền vẫn bất động. Không có một sự kêu gọi cưu mang giúp đỡ nào, dù là chút ít. Còn bọn nhà giàu trong huyện, thóc chất đầy “lẫm” (kho). Cánh hàng xáo làng tôi tới hỏi mua, chúng cười khẩy: “Thóc ta để nhìn cho sướng mắt. Ruộng vườn, nhà cửa, tiền bạc... ta đã nhiều, bán để làm gì?”. Cả huyện Hương Sơn, tôi chỉ thấy một vị quan lớn về hưu (Nguyễn Khắc Niêm, bố đẻ nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện) là có suất gạo nấu cháo phát chẩn cho dân làng. Tiếc rằng vị này không giàu nên sự cứu đói của ông chẳng thấm vào đâu. Còn đại đa số bọn giàu có, đắp chăn cho thóc “nằm ngủ”, thản nhiên nhìn dân chết đói.
Rõ ràng, để dân chết đói là một tội ác của Pháp, Nhật và bọn địa chủ. Chúng đổ lỗi cho thiên tai (hạn hán và lũ lụt). Theo tư liệu chúng tôi sưu tầm được, hạn hán ở Bắc Bộ và Trung Bộ xảy ra thường xuyên, nhưng thường là diện hẹp, thiệt hại không quá lớn. Tính từ năm 1930 đến năm 1944, chỉ có năm 1932 là Nghệ An bị hạn hán nặng, toàn tỉnh chết đói gần 500 người.
Cũng tương tự, năm 1939, năm 1944 lại là năm được mùa. Sản lượng thóc tính bình quân đầu người là tính theo lý thuyết, thực tế còn thấp hơn nhiều. Mặt khác, thóc còn dành làm giống và phần lớn tập trung trong tay người giàu. Về lý thuyết cũng như thực tế, nếu toàn bộ ruộng đất Bắc Bộ và Trung Bộ được huy động để trồng lúa, cho dù có được mùa, nếu nơi nào tiêu thụ nơi ấy thì Bắc Bộ sống cầm chừng, Trung Bộ có nguy cơ chết đói. Từ năm 1942, ở Bắc Bộ, gần 1/2 diện tích ruộng Pháp và ruộng Nhật bắt phải trồng đay. Trung Bộ, tôi chỉ biết ở Nghệ Tĩnh chúng cũng bắt bỏ lúa trồng lạc. Đay và lạc (đậu phộng) đều do chúng thu mua. Như vậy sản lượng theo đầu người đã giảm đi một nửa. Ngoài ra, chúng còn từng mua thóc bắt buộc tính theo diện tích ở cả Bắc Bộ và Trung Bộ. Trong tình thế đó, lệnh cấm chở gạo từ
Tình hình ruộng đất và sản lượng thóc của nước ta Mục Ruộng canh tác (ha) 2.258.000 970,000 1.180.000 1939 Sản lượng thóc (tấn) 3.035.000 1.000.000 2.200.000 1939 Dân số (người) 4.483.000 5.656.000 8.700.000 1934 Bình quân kg/người 677 176 253 1939
từ năm 1936 đến năm 1939
Sáu chục năm đã qua, có người thử hỏi, giá gạo Bắc -
Nhân năm Ất Dậu (2005), tôi muốn nhắc lại chuyện chết đói năm Ất Dậu (1945) để thế hệ hôm nay hiểu về quá khứ đau thương và hiểu về một phần bản chất của thực dân đế quốc, để từ đó càng vững tin theo Đảng, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc...
