Nhớ anh Phạm Thanh Đàm
Tháng 8 năm 1845, anh là Ủy viên lâm thời của Ủy ban Cách mạng xã Quảng Trung. Năm 1947, 21 tuổi, là Huyện ủy viên rồi Phó Bí thư Huyện ủy. Năm sau là Thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách tuyên huấn tỉnh Quảng Bình.
Năm 1953, anh nhận trọng trách Trưởng ty Công an Thừa Thiên khi mới 27 tuổi. Từ năm 1954 đến năm 1960, anh là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ty Công an Quảng Bình.
Từ cuối năm 1960, anh chuyển về Bộ. Sau khi đi học ở Liên Xô ba năm, anh về nhận nhiệm vụ Phó Cục trưởng các cục Bảo vệ Công nghiệp, Bảo vệ Nội bộ. Tiếp theo là Cục trưởng các cục Bảo vệ Kinh tế, Hồ sơ.
Công việc rất bận rộn, song anh vẫn thủy chung với văn chương vốn là niềm say mê từ ngày còn ngồi ghế nhà trường. "Thuở ấy chúng mình thích chép thơ/ Tìm thơ cách mạng chép say sưa/ Em lười, em bảo thuê anh chép/ Mỗi một bài thơ, chiếc kẹo dừa" (Gặp lại).
Những bài thơ tranh đấu tuổi thanh niên được in thành tập thơ đầu tay "Gươm hận" có nhiều câu đầy khí phách: "Giặc bắt em vào lao Thừa Phủ/ Chúng tra tấn em bằng mọi cực hình/ em nghiến chặt răng, đôi môi mềm bật máu/ Chúng bất lực đầy em ra Côn Đảo"... (Khóc o giao liên).
Là một cán bộ lãnh đạo Công an ở một tỉnh địa đầu giới tuyến khi đất nước bị chia cắt, nỗi đau ly biệt càng sâu sắc, nỗi niềm tình cảm hai miền càng da diết. "Bên này bên đó bao xa/ Mà thuyền nhớ bãi mà ta nhớ mình/ thuyền nhớ bãi vì tình nghĩa trước/ Ta nhớ mình vì ước thề xưa... Trừ gian diệt ác phá tề/ Buồn vui tâm sự ta chia với mình..." (Nhớ bạn bên kia giới tuyến).
Về văn xuôi, nhiều người biết và quý bài bút ký đặc sắc của anh Đàm viết về chuyến thăm Quảng Bình của Bác Hồ năm 1960.
Trong kháng chiến chống Pháp, cán bộ từ vùng Bình - Trị - Thiên khói lửa thường qua Nghệ - Tĩnh để học tập, điều dưỡng, hoặc lên Việt Bắc. Vùng tự do nổi tiếng văn vật này có thiên duyên gắn bó với anh cán bộ Công an Quảng Bình đa cảm yêu thơ văn Phạm Thanh Đàm. Không những anh say mê phong cảnh tráng lệ của đất La Sơn, mà anh còn bị hút hồn vì một cô gái sông La "Anh thăm quê Trần Phú/ Gặp em, gái sông La/ Tình không hẹn đôi ta/ Mà thắm duyên từ đó"... (Tình anh, tình em).
Người con gái đó sinh trưởng trong một gia đình yêu nước ở thị trấn Đức Thọ nổi tiếng với quán "Mẹ chiến sỹ" do bà Cửu Mân là mẹ chị, phụ trách. Cán bộ, bộ đội đi công tác qua đây dù đêm khuya, gà gáy; dù bom đạn ác liệt, đến quán mẹ đều được ân cần đón tiếp, săn sóc cơm nước chu đáo. Cùng với các anh em ruột đã thoát ly đi công tác, cô gái sông La cũng từ giã mẹ cha để thành: "Em là đề tài muôn thuở/ Cho anh viết về tình yêu..." (Tình yêu bất tận). Rồi "đề tài muôn thuở" trở thành luôn bạn đời và là đồng đội của anh. Đó là chị Bùi Thị Thanh Kỳ, cán bộ Vụ Pháp chế, Bộ Công an.
Nói đến tình yêu của chiến sỹ Công an, không thể không nói đến tình yêu ngành, yêu nghề, yêu đồng đội. Đó là thứ tình cảm rộng lớn mà rất thắm thiết sâu nặng. Là sự gắn kết để hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống, là danh dự và vinh quang. Tuy nó bình lặng không phô phang nhưng nó khắc sâu vào tâm can, thành tiềm thức ở mỗi người.
Là Trưởng ty Công an, anh Đàm vẫn rung động cùng người chiến sỹ Biên phòng: "Rừng núi biên cương ôm Tổ quốc/ Chập chờn bóng địch ẩn trong sương/ Tôi như nghe vẳng qua đèo dốc/ Gót giặc âm thầm lướt cỏ vương... Tôi như nghe cả hồn đất nước/ Bừng dậy mênh mông ngút núi ngàn/ Muôn vạn tình thương đang rạo rực/ Dâng quanh người chiến sỹ Công an". (Đêm gác bên đèo). Và với người chiến sỹ trinh sát: "Ôi đẹp lắm, những con người trinh sát!/ Tổ quốc tự hào vì có các anh/ Những đứa con ngoan cường son sắt/ Hiến đời mình trên trận tuyến vô danh...".(Bài ca trinh sát).
Trong bài "Chiếc đồng hồ của Hồ Chủ tịch", anh viết như một lời nguyền: "Về nguyện vọng riêng thì tôi là người cán bộ Công an, xin chiến đấu trong đội ngũ Công an cho đến lúc nào Đảng và nhân dân không cần có Công an nữa".
Nhiệm vụ nặng nề, nhưng các anh vẫn dành tình cảm và thời gian cho sáng tác. Sau "Gươm hận", anh in tiếp các tập thơ "Tiếng kêu trong đêm tối", "Thuở ấy", trường ca "Ba mươi năm đời ta có Đảng", và nhiều truyện ký. Chống chiến tranh bí mật của Mỹ - ngụy tung gián điệp biệt kích phá hoại miền Bắc, anh có các tập truyện phản gián được nhiều bạn đọc khen ngợi, in hàng chục vạn bản như "Tọa độ bí mật", "Mũi tên 17", "Lửa sông Gianh".
Lợi thế cán bộ Công an giàu kinh nghiệm, anh tạo dựng được những tình huống nghiệp vụ gay cấn ly kỳ đi đôi với phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc rộng khắp làm cho sách có sức hấp dẫn, lý thú.
Cuối năm 1980, Nhà xuất bản Công an nhân dân được quyết định thành lập. Nghe nói anh Phạm Thanh Đàm sẽ được điều về làm giám đốc, chúng tôi rất mừng. Anh chị em viết văn trẻ ở Phòng Sáng tác vui vẻ bàn tán, nhà xuất bản ra đời có được giám đốc là một Cục trưởng giàu kinh nghiệm, có uy tín như vậy sẽ rất thuận lợi về mọi mặt.
Anh Ngôn Vĩnh thâm thúy bình luận: Anh Lê Tri Kỷ thật cao thượng và sáng suốt! Quả đúng như thế. Anh Lê Tri Kỷ là người đề xuất chủ yếu và được giao nhiệm vụ tổ chức thành lập nhà xuất bản. Cứ nghĩ anh sẽ được cử làm giám đốc đã là tuyệt lắm rồi.--PageBreak--
Tôi đến trụ sở Cục Hồ sơ ở phía
Trò chuyện với anh gần một giờ, tôi cảm thấy tự nhiên thoải mái vì anh giản dị thân tình, như hai người bạn viết, không có gì là cách bức về tuổi tác và cương vị công tác. Tôi càng hiểu thêm những điều các anh Lãm, Thành là đồng đội cũ của tôi ở Cục Cảnh vệ đã chuyển sang công tác ở Cục Hồ sơ, ca ngợi anh Đàm là người thông minh, hiểu biết rộng, rất cởi mở và tận tình. Nhờ thế mà các anh đã nhanh chóng phát huy được năng lực ở môi trường nghiệp vụ mới.
Tôi hỏi anh, bao giờ anh sang nhận công tác ở nhà xuất bản? Anh lắc đầu nhẹ, trầm lại giây lát rồi nói: "Chưa có quyết định. Công việc bên này đang ngổn ngang đồ sộ lắm".
Chúng tôi rất hiểu, nhiều năm sau giải phóng việc quản lý hồ sơ rất to lớn, rất quan trọng, vẫn sợ Bộ không cho anh đi. Anh lại mới định cư ở TP HCM, hai người con lớn của anh đã nhận công tác ở đây. Nếu lại phải trở ra Hà Nội nhận việc ở nhà xuất bản thì khó cho anh lắm.
Tôi đem băn khoăn của mình trao đổi với anh Lê Tri Kỷ. Anh Kỷ nói, Bộ trưởng Phạm Hùng đang rất quan tâm đến việc thành lập nhà xuất bản. Sắp xếp công tác và việc nhà của anh Đàm không khó. Làm sao để anh Đàm vui lòng về bên ta là được.
![]() |
|
Bộ trưởng Bùi Thiện Ngộ thăm đồng chí Phạm Thanh Đàm (tại nhà riêng ngày 1/2/1992). Ảnh: Tư liệu. |
Lại sang gặp anh Đàm, lần này tôi chỉ nói chuyện sáng tác về đề tài Công an. Anh Đàm sôi nổi nói về ý nghĩa nhân văn và phạm vi rộng lớn của đề tài an ninh trật tự. Nói chuyện một lúc rồi tôi kể lại ấn tượng của tôi hồi mới vào Công an được học bài "Chiếc đồng hồ của Hồ Chủ tịch" của anh. Anh Đàm cười ý nhị, nói: "Mình hiểu ý của cậu rồi".
Sau đó, anh Lê Tri Kỷ hỏi tôi, cậu nói gì với anh Đàm. Tôi lấy cuốn "Theo con đường của Bác" Công an in năm 1961, giở bài của anh Đàm đọc mấy câu anh viết, kể lại, tháng 3 năm 1959, trong lễ thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang, Hồ Chủ tịch đã đến thăm: "Khi nghe nói có những đồng chí còn thắc mắc: Làm Công an không có tiền đồ, làm Công an không có vinh quang (!) vì hoạt động lặng lẽ không ai biết, thành tích không được tuyên truyền...".
Bác Hồ nhìn mọi người, hỏi: "Các chú, các cô có dùng đồng hồ đấy chứ?". "Thưa Bác có ạ!". "Thế khi xem giờ, các chú, các cô có mở bộ máy ra xem không?". "Thưa Bác, không ạ!". Bác nói: "Cái bộ máy nó hoạt động lặng lẽ, bí mật, không ai nhìn thấy nó, nhưng nó đã phục vụ đắc lực cho các chú, các cô làm việc"...
Tôi đọc tiếp câu kết: "Câu chuyện đã làm cháy thêm trong lòng tôi ngọn lửa quyết tâm và phấn khởi mới. Ý nghĩa của tôi khi viết bài này là "Sẵn sàng phục vụ bất cứ một công tác gì Đảng cần".
Anh Kỷ cười, báo tin sắp có quyết định rồi.
Về nhà xuất bản, ngoài công việc quản lý bận rộn, anh Đàm rất chú trọng mảng sách chính trị, nghiệp vụ. Anh cùng anh Nguyễn Đình Quý viết cuốn "Chiến tranh phá hoại tư tưởng".
Anh viết các truyện thiếu nhi "Thám tử đường phố", "Bẫy vô hình", "Cô giáo Lut-mi-la" và truyện nghiệp vụ "Phiên tòa trên biển" cùng một số bài thơ, và tin tập "Mấy khúc tình thơ", có những câu đoàn viên vui vẻ: "Giờ đây anh gặp được em rồi/ Gặp đúng người xưa thuở thiếu thời/ Gặp đúng con người anh mong đợi/ Bốn mươi năm đổi một giờ vui!" (Gặp lại).
Trong công việc biên tập, đọc duyệt bản thảo, anh thận trọng từng chi tiết. Một lần, in cuốn sách dịch, biên tập viên để tên người dịch ở bìa, anh xót xa về nỗi anh em tay ngang ít hiểu biết nghề làm sách. Có người nói xuê xoa: "Thôi cũng được, càng sang cho dịch giả". Anh lắc đầu nói: "Không phải là sang, mà là xúc phạm". Anh gọi điện xin lỗi dịch giả, nói nếu không đồng ý sẽ hủy bìa làm lại.
Nét nổi bật trong phong cách của anh là điềm đạm, thẳng thắn, cương nghị. Anh em quý mến anh vì đức đó. Còn bản thân anh, tôi nghe nói, vì thế đã phải chịu không ít rầy rà.
Đầu thập kỷ 80, từ chiến tranh bước ra, lớp cán bộ trẻ đua nhau tìm chỗ học để nâng cao trình độ. Anh Đàm có một bài nói chuyện với đoàn thanh niên, nội dung là, "Có học mới làm được việc", rất được hoan nghênh.
Có vài ngưuời nói rằng nói như thế là phiến diện. Có rất nhiều người đã trưởng thành từ thực tế dù không được học hành nhiều... Họ đề nghị anh không nên để báo đăng lại bài đó. Anh cho rằng tất nhiên có nhiều ngoại lệ, nhất là hoàn cảnh của chúng ta. Nhưng chân lý không nên né tránh sợ đụng chạm.
Báo Công an khi đó phát hành nội bộ, đã đăng lại bài nói chuyện đó của anh.
Khi về làm việc ở nhà xuất bản rồi, vẫn còn nhiều người cùng đơn vị thân tình đến thăm, chơi, tâm sự với anh. Ai gặp khó khăn vướng mắc anh góp những ý kiến thích hợp để tháo gỡ. Không ít người gặp hoạn nạn đã được anh cưu mang.
Rất nhiều điều được chứng kiến, trải nghiệm và suy ngẫm về nhân thế, thời cuộc sau này được anh ký thác, gửi gắm trong "Trăn trở", tập tiểu thuyết gần như cuối đời của anh. Cuốn tiểu thuyết khai thác sâu vào nội tâm, số phận này có thể hiện sự cách tân trong sáng tác, một bước chuyển đổi có ý nghĩa trong tâm thức nhà văn nơi anh. Anh đã chú tâm hướng tới sự hấp dẫn ở tính cách, con người chứ không chỉ về sự việc, tình huống...
Suốt một đời công tác và chiến đấu kiên cường thành đạt, đến lúc này, anh khao khát có nhiều thời giờ để viết. Viết để giải tỏa, viết để cống hiến. Tiếc thay, một cơn bạo bệnh, lần tai biến thứ ba, ập đến ngăn cản anh thực hiện mọi dự định! Trong bài thơ "Ngày vĩnh biệt em", nghĩ tới phút cuối cùng không ai tránh khỏi, anh viết: "Anh mới rõ đời người là có hạn/ Và tình yêu không giữ nổi người thân".
Người thân, đồng đội, bạn bè đều tin chắc với sự từng trải cuộc đời và nghề nghiệp, với sức viết đang độ thăng hoa cùng khát vọng nhà văn cháy bỏng, anh có thể có được những tác phẩm đỉnh cao. Hàng ngũ nhà văn hiếm hoi của ngành Công an sẽ có thêm một cây bút vững vàng. Tiếc thay!...

