Nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày 50 năm giải phóng Điện Biên

Thứ Bảy, 12/10/2013, 10:17
Đúng 9h sáng - múi giờ sáng láng minh mẫn nhất của một ngày năm 2003, vị tướng già 93 tuổi Võ Nguyên Giáp với quân hàm Đại tướng bước tới chậm rãi bắt tay Phó TBT Lưu Vinh và tôi, nhóm phóng viên Báo Công an nhân dân đang chờ sẵn ở căn phòng khách.

Vẫn bàn tay mềm mại và ấm nóng, vẫn nụ cười lạc quan hiển hiện và cái nhìn quắc sáng bao dung, khiến cánh nhà báo chúng tôi bỗng thấy yên lòng về sức khỏe của một vị tướng thuộc thế hệ lớp người khai quốc. Nhất là vào thời điểm mà toàn Đảng, toàn dân ta đang chuẩn bị kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, một Điện Biên chấn động địa cầu mà ở đó, những câu chuyện về vị tướng chỉ huy chiến dịch đã đi vào huyền thoại.

Vị Đại tướng lừng danh là thế, vậy mà sáng nay ông vẫn bình dị, gần gũi nhìn chúng tôi nói chậm rãi, âm sắc vẫn rõ chất giọng quê hương Quảng Bình. Thật là quá mừng khi ở độ tuổi bách niên, giọng của Đại tướng vẫn rõ ràng khúc chiết đến vậy.

- Chúng ta kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trong thời điểm hiện nay có ý nghĩa hết sức lớn. Tôi với tư cách là Tổng Tư lệnh chiến dịch Điện Biên Phủ, lại là người từng làm báo lâu năm xin hoan nghênh và trao đổi với các đồng chí đôi điều.

Ngày 1/1/1954, trước khi ra mặt trận, tôi lên chào Bác, Bác dặn: “Trận đánh này rất quan trọng, phải đánh thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh. Chú ra mặt trận giao cho chú được toàn quyền quyết định…”.

Thực hiện lời Bác dặn, tôi và đồng chí Trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc cùng lên đường đi chiến dịch. Dọc đường đi, chúng tôi gặp hàng vạn dân công, bộ đội hành quân, vận chuyển lương thực, gạo muối phục vụ chiến dịch. Lên đến Điện Biên Phủ, tôi được bộ phận tham mưu của ta cùng bộ phận tham mưu của cố vấn đi trước báo cáo và đề xuất rằng, địch mới nhảy dù xuống, đứng chân chưa vững, ta đánh ngay thì chắc thắng. Kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” này đã được nhất trí cao, đã phổ biến trong đơn vị, trên dưới đều nhất trí và quyết tâm rất cao. Tôi thấy đánh nhanh thắng nhanh lúc này là không được, cần theo dõi nắm thêm tình hình. Qua 11 ngày đêm theo dõi, có đêm tôi thức trắng. Đến lúc được báo cáo là địch tăng cường đổ thêm quân, tăng cường công sự và chướng ngại vật giăng thép gai lại càng thấy lúc này đánh nhanh là không được. Tình hình rất gấp. Kế hoạch của ta là toàn mặt trận nổ súng vào ngày 25/1, tôi hoãn lại 1 ngày sang tới mờ sáng 26/1. Có một câu chuyện mà tôi còn nhớ mãi đến bây giờ, liên quan đến đồng chí Phạm Kiệt, lúc ấy đi kiểm tra bộ đội kéo pháo đại bác lên các đồi cao chuẩn bị giội xuống cứ điểm của địch.

Tôi hỏi thì anh Kiệt nói: Pháo của ta đã kéo lên cao rồi, nhưng bố trí trận địa dã chiến như thế này địch phát hiện bắn trả hoặc giội bom thì làm sao mà an toàn được. Địch lại có cả không quân, cả pháo nữa… Đề nghị Tổng tư lệnh cân nhắc lại. Cả mặt trận duy nhất chỉ một người đã “cả gan” nói thật với tôi như vậy (Đại tướng nhìn khắp lượt chúng tôi nhắc lại: Chỉ có một người, nhưng đã có sức nặng nghìn cân giúp tôi đi đến quyết định dứt khoát). Tôi điện hỏi Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn, chỉ huy hướng đánh chính vào Điện Biên Phủ, ý đồng chí thế nào?

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đón Chủ tịch Fidel Castro đến thăm tại nhà riêng 30 Hoàng Diệu, Hà Nội (2003). Ảnh: Xuân Gụ.

Anh Tấn trả lời: Quân Pháp đào công sự rất chắc chắn, dây thép gai chúng chồng lên nhau rất bùng nhùng; nếu tôi đột kích vào đến Mường Thanh thì phải đột phá ba phòng tuyến kiên cố của địch. Rất khó khăn, nhưng tôi cũng xin quyết tâm thực hiện được kế hoạch của trên. Vậy là chỉ cần một ý kiến của anh Phạm Kiệt, thêm ý kiến của anh Lê Trọng Tấn, tôi thấy thế này không được nên sang ngày 26/1, tôi sang bàn với đồng chí cố vấn quân sự Trung Quốc, đồng chí ấy hỏi: “Đã đến ngày nổ súng, Vũ tướng có ý kiến gì không?”. Tôi nói: “Đánh như thế này sẽ thất bại” và nêu lên những khó khăn chưa có cách giải quyết.

Suy nghĩ một lát, đồng chí cố vấn nói: “Tôi nhất trí với Vũ tổng”. Đồng chí cố vấn hứa có trách nhiệm đả thông tư tưởng với các bạn Trung Quốc. Liền sau, tôi về tổ chức cuộc họp Đảng ủy chiến dịch. Cuộc họp đã tranh luận gay gắt, nhưng khi tôi hỏi đánh thế này có đảm bảo đánh là chắc thắng 100% như Bác Hồ từng dặn không thì không ai dám khẳng định. Tôi kết luận và được Đảng ủy nhất trí là ngừng cuộc tấn công, đưa bộ đội về vị trí tập kết, kéo pháo ra chuẩn bị lại.

Trời Hà Nội hôm ấy se lạnh, nhưng ngoài vườn phía đường Hoàng Diệu nắng đã hồng lên như sưởi ấm căn phòng khách của Đại tướng. Anh Nguyễn Huyên – thư ký của Đại tướng đã mấy lần nháy mắt ra ám hiệu cho các nhà báo để Đại tướng nghỉ ngơi. Chúng tôi hiểu ý đứng lên, nhưng Đại tướng giơ hai tay mời chúng tôi ngồi lại.

Tranh thủ lúc Đại tướng nhìn chúng tôi chờ đợi, chúng tôi hỏi:

- Thưa Đại tướng, năm 2004, lực lượng CAND tiếp tục thi đua lập thành tích mừng kỷ niệm 55 năm học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy, Đại tướng có điều gì nhắc nhở anh em Công an?

Đại tướng nhìn chúng tôi rất lâu như định hỏi thêm điều gì, một lát, ông mới chậm rãi nói:

- Nhiều năm qua, lực lượng Công an đã luôn chú trọng thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy và đã có nhiều tiến bộ trong xây dựng lực lượng cũng như tham gia chống tội phạm, tiêu cực, tham nhũng, bảo đảm an ninh xã hội, an toàn giao thông. Tôi nhiệt liệt hoan nghênh những thành tích mà Công an ta đã đạt được. Bước sang năm 2004, để tiếp tục thực hiện được lời Bác dạy, tôi thấy vấn đề quan trọng hàng đầu là phải xây dựng lực lượng Công an thật sự gương mẫu, thật sự liêm khiết và góp phần tích cực hơn nữa vào đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tham nhũng, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân. Năm 2004, phải có tiến bộ rõ rệt về vấn đề trên. Công an thực sự trong sạch, vững mạnh, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, luôn xứng đáng là lực lượng tin cậy của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân. Chúc Báo CAND năm mới có những tiến bộ mới, tích cực góp phần phổ biến tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, xây dựng CAND vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đảm bảo an ninh của Tổ quốc.

Một lần nữa, anh Nguyễn Huyên mời Đại tướng nghỉ trưa, chúng tôi hiểu ý đứng dậy thì Đại tướng lại giơ tay ra hiệu ngồi thêm chút nữa. Anh Huyên tranh thủ kể thêm với các nhà báo rằng: “Với chiến thắng Điện Biên Phủ, ca từ Điện Biên Phủ đã trở thành hiện thân của sức mạnh Việt Nam. Sau này khi nhân dân ta làm nên những sự việc phi thường gì người ta cũng dùng từ Điện Biên Phủ để chỉ sự kiện ấy như “Điện Biên Phủ trên không” (1972). Từ đó, cũng có thể nói sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu lương thực vượt mức như vừa qua cũng là một Điện Biên Phủ trong xây dựng kinh tế. Tôi hiểu ý người thư ký đang kiếm cớ “tranh thủ diễn đàn” để Đại tướng được nghỉ một lát. Không ngờ những ý kiến của anh Huyên lại gợi khiến Đại tướng tiếp lời:

- Còn có những “Điện Biên Phủ” về trí tuệ của các cháu học sinh tranh tài quốc tế nữa, nhưng chưa thấy mọi người nói đến nhiều. Từ năm 1975 đến nay, các cháu học sinh của ta đã đoạt được nhiều giải cao về toán, về lý… trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế. Lịch sử Việt Nam xưa nay chưa có chuyện này. Mấy năm rồi, có cháu đỗ rất cao là Trạng nguyên của 65 nước. Vậy tại sao ta không thưởng xứng đáng cho các cháu? Bây giờ đang có xu hướng trọng người có nhiều tiền hơn người tài thì phải. Theo tin tôi biết ở châu Á người ta thống kê 50 trường đại học hàng đầu, nhưng không có một trường đại học nào của Việt Nam cả. Tại sao thì mình phải suy nghĩ? Nhiều đêm tôi mất ngủ về nhiều chuyện. Tại sao ta chiếu nhiều phim nước ngoài để trẻ em Việt Nam thuộc sử ngoại quốc nhiều hơn lịch sử nước nhà. Tôi xúc động biết bao nhiêu khi nhìn thấy nhiều người nhặt nhạnh từng trăm, từng triệu bỏ vào thùng giúp đỡ người nghèo, nhưng lại không ngủ được vì biết có kẻ tham nhũng hàng chục tỷ đồng mà xét xử vẫn chưa nghiêm…

Biết Đại tướng vừa phải điều trị một đợt ở bệnh viện, chúng tôi xin phép cáo từ. Hình như Đại tướng còn muốn tâm sự thêm điều gì, lòng chúng tôi bỗng nhớ ý thơ của một nhà thơ viết về Đại tướng: “Lịch sử đưa tay đón ông vào huyền thoại. Nhưng người còn day dứt với mùa thu”…

Vậy mà ngày 4/10/2013 này, Đại tướng đã vĩnh biệt chúng ta. Rồi đây người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Anh hùng dân tộc, vị Đại tướng của hòa bình, anh Cả của quân đội, anh Văn của muôn dân… sẽ nằm lại mãi mãi với đất mẹ của quê hương Quảng Bình. Nơi ông yên nghỉ là Vũng Chùa, Đảo Yến, xã Quảng Đông, (huyện Quảng Trạch, Quảng Bình) sẽ có sóng biển và thông reo hòa quyện thành khúc nhạc ru ông an giấc ngàn thu, sẽ có cát trắng và ánh nắng soi sáng tư tưởng vì dân của ông. Nơi ông yên nghỉ, rồi đây sẽ là điểm văn hóa lịch sử lôi cuốn khách muôn nơi hội tụ, trở thành mạch nối giữa người Quảng Bình với bè bạn thập phương. Và như vậy, tôi thầm nghĩ với Ông, sống là hi sinh, chết là dâng hiến!

H.T.
.
.
.