Nhìn lên Lũng Cú

Thứ Sáu, 11/07/2008, 08:32
Nghỉ lại ở Lũng Cú để biết hương vị đêm của miền cực Bắc. Tiếng gió hú vọng ra từ vách núi, cả tiếng thì thào của những người đi nương, hay tiếng lục lạc bầy gia súc vọng lại. Đọt trăng non vừa nhô lên thoát ra khỏi một đỉnh núi duyên dáng như người con gái Mông trong ngày cưới...

Chiếc xe khách rù rì như con rùa đưa chúng tôi vượt qua bao nhiêu núi cao để đến được Đồng Văn thì trời đã khuya. Cuộc liên hoan muộn mằn đó, đoàn hát về nỗi nhớ Hà Nội. Ô hay, chúng tôi vừa chào tạm biệt chốn đô thành có hai ngày để đến cao nguyên này với tâm trạng hào hứng, và giờ những tâm trạng cất lên lời ca đã giảm mất phần nào nhuệ khí. Thế mà đồng bào ta vẫn sống được cả đời trên cao nguyên, sinh con đẻ cái đời này qua đời khác?

Mục đích chuyến đi này là tìm hiểu về đời sống các dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa. Hà Giang là một tỉnh với nhiều khó khăn vì diện tích chỉ cao nguyên với đá, đường biên giới giáp Trung Quốc dài và địa hình hiểm trở nên là nơi được chọn là điểm đến của đoàn.

Cô trưởng đoàn không ngừng tiếp thêm "năng lượng" cho sinh viên bằng những lời động viên khích lệ: "Hãy hòa vào cuộc sống nơi đây, chứng kiến, quan sát và cảm nhận. Từ mảnh đất khắc nghiệt này, chúng ta thấy điều gì? Sức sống đúng không, sức sống mãnh liệt của con người trên đá". Ngay lập tức tam ca nữ lại hát về Hà Giang với tâm trạng phấn chấn hẳn: "Hà Giang mến yêu ơi, Hà Giang mến yêu của tôi…".

Tiếng hát của mấy cô gái nằng nặng như tiếng mưa ban chiều. Thời tiết vùng cao thất thường như cô gái khó tính, gay gắt nắng đến quắt khô những thân ngô trên núi, cháy sém tóc của lũ trẻ trên nương, nhưng mưa lại ào ạt đổ lúc nào không biết, để rồi sức nước xối moi từng chút đất mà người dân ra sức đắp bồi cho đá để trồng ngô ném xuống thung lũng, rồi khi mưa tạnh, nắng lên, người dân lại cẩn thận đào và cõng lên núi.

Chị Đào, cán bộ của Sở Văn hóa Hà Giang là người trực tiếp đưa đoàn đi, giọng khàn khàn: "Đây không phải là lần đầu tiên tôi chứng kiến sự thất vọng của khách đến thăm, nhưng chúng tôi đã nói rồi, đoàn đến đây là để tìm hiểu chứ không phải để du lịch hưởng thụ". Nghe vậy, hầu như trong mỗi người đều vỡ vạc ra một điều gì đấy, thoáng chút ân hận vì ý nghĩ của mình. Rồi xin đi nghỉ để sớm mai lên đỉnh Lũng Cú.

Tôi không ngủ được, muốn hưởng một đêm cao nguyên ngoài trời, liền rủ một anh bạn đi cùng. Đêm đen hun hút và yếu ớt ánh điện đêm hắt ra. Những cơn gió thổi đủ làm vơi đi cái ngột ngạt của hè đổ xuống hồi chiều còn ám ảnh. Dừng chân và ngồi nói chuyện ở cổng chợ Đồng Văn. Trời khuya nên đường vắng tanh vắng ngắt, chỉ thi thoảng có tiếng động cơ của những chiếc xe máy muộn xé bóng đêm. Và đột nhiên chúng tôi nghe thấy tiếng khèn là lạ, tiếng khèn phát ra từ phía nhà tạm trong chợ.

Theo tiếng đó đi vào, trước mắt chúng tôi là một người đàn ông nhỏ thó, ngồi dựa cột và tay bưng cây khèn. "Tại sao bác ngồi đây thổi khèn khuya thế ạ?". Hỏi đến lần thứ ba câu hỏi ấy, người đàn ông mới dừng thổi, ngước mắt lên nhìn, cái nhìn là lạ, sau đó, ông ta đứng lên, đi thẳng. Khi còn chưa hiểu chuyện gì thì có một thanh niên tiến lại, dường như bí mật đi theo ông kia, tôi đoán là em hoặc con cả. Người đó nhìn chúng tôi nói: "Không ai hỏi mà ông ấy nói cả. Ông ấy bị bắt mất con gái, giờ thành ra thế đấy". Người thanh niên cũng cất bước.

Sáng sớm, sau khi ăn sáng qua quýt, chiếc xe lại ẵm chúng tôi bên trong, bò lê leo lên những con dốc, xuống dốc để đến Lũng Cú. Những đám sương chờn vờn quanh đỉnh núi, và những thân ngô trải khắp sườn núi, vẫy vẫy lá xanh như đón chào.

Ngay từ khi ra khỏi thị xã Hà Giang thì trước mắt chúng tôi chỉ núi là núi. Những dãy núi đá tai mèo giăng giăng vây kín bốn bề. Đá tai mèo lởm chởm sắc nhọn như những chiếc răng khủng long gớm ghiếc! Đá như một thứ đặc sản mà ông trời ban cho họ, để tạo thêm ý chí và sức sống của những con người cả đời sẽ phải gắn bó với đá. Sống trên đá, chết nằm trong đá.

Người dưới xuôi lên đều lắc đầu, cuộc sống khắc nghiệt thế. Đất không có trên núi, nước không có trên núi thì người ta cõng đất lên bón cho đá. Và mỗi một hốc đá có một thân ngô mọc lên. Hằng ngày, người dân vẫn giành giật với thiên nhiên để bảo vệ những cây ngô, là cuộc sống của mình.

Xe dừng lại ở nhà văn hoá xã, một lũ trẻ từ đâu ào ra như trẻ dưới quê thấy mẹ đi chợ về. Chúng lạ lẫm nhìn bằng những đôi mắt trong veo xoe tròn, với bộ mặt lem luốc và mái tóc xác xơ. Đường đến cột cờ Lũng Cú không còn bao xa, nên đoàn quyết định đi bộ. --PageBreak--

Lũ trẻ có lẽ sẽ nhất quyết đi theo. Khi chúng được nhận những cái kẹo nhỏ nhắn, bóc ra, tóp tép nhai ngon lành, thì dường như tâm trạng phơi phới vui. Chân chúng thoăn thoắt bước, và điều lạ là một đứa trẻ ba bốn tuổi có thể đi và leo bậc nhanh hơn một người lớn dưới xuôi. Có người nói trẻ em ở đây biết leo núi trước khi biết nói, ngẫm cũng đúng phần nào.

Cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng, ngày xưa có tên là Long Cư, đọc chệch theo tiếng dân tộc là Lũng Cú, cao 1.800m so với mặt nước biển. Và vì thế mà cột cờ cao gần 20m đường bệ đứng như người lính canh cho địa đầu Tổ quốc luôn bình yên, với lá cờ rộng 54m2 tượng trưng cho 54 dân tộc anh em. Đây sẽ là một chấm son nơi đỉnh đầu mảnh đất hình chữ S, cũng là điểm đầu tiên của một dân tộc anh hùng.

Đến được đỉnh cao Lũng Cú, cũng là mơ ước trong thời thanh xuân của mình. Và mãi sau này, khi về xuôi hay đặt chân đến bất cứ đâu, thì ký ức của tôi vẫn có hình ảnh của một miền đá núi trập trùng, nắng và mưa thất thường. Nhưng thường là nắng và mùa khô kéo dài, vì thế mà người dân luôn thiếu nước. Cả đoàn rủ nhau chụp hình, ghi lại khoảnh khắc đặt chân đến vùng đất này, như muốn mang về xuôi khoảnh khắc thiêng liêng của đời sinh viên.

Đến lúc này, tôi hiểu vì sao lũ trẻ nhiệt tình đi theo đoàn. Chúng nghĩ đoàn leo lên đỉnh sẽ ăn trưa ở đó, dù không thấy bất kỳ dấu hiệu nào của một bữa trưa mà các anh chị sinh viên mang theo, nhưng chúng chờ đợi sẽ có ai đó đi sau mang lên.

Đoàn tản mát vào những bản làng xung quanh dưới chân cột cờ Lũng Cú. Những đứa trẻ thất vọng hoặc quay trở lại nhà văn hoá hoặc về nhà. Đứa nào về nhà văn hóa thì Nhan lấy từ xe ra ít bánh trái chia cho chúng. Bóng chúng tròn tròn xiêu xiêu đổ xuống mặt đường.

Thú vị đối với những sinh viên đến vùng này là những bờ rào đá. Hình ảnh này được chú ý bởi mọi người đã ấn tượng và đọc được nó trong truyện ngắn của nhà văn Đỗ Bích Thuý. Những ai đã đọc truyện của nhà văn này nếu đến Hà Giang, đều phải tìm cho được bờ rào đá để xem nó thế nào.

Nó đơn sơ mộc mạc, đơn sơ như chính cuộc sống của người dân nơi đây. Toàn bộ bờ rào được xếp gọn bằng những hòn đá vẹt như bàn tay bàn chân, hoặc nhỏ hơn nữa cao bằng đầu người. Chẳng cần phải gắn kết bằng vôi vữa, nhưng những hòn đá vẫn nằm bên nhau một cách chung thủy, trả ơn cho những bàn tay khéo léo đã tạo nên cái gọi là bờ rào đá.

Hẳn đó là một sự sáng tạo rồi. Có những bờ rào được người chủ lãng mạn xếp thành hình trái tim, từ trên cao nhìn xuống, đẹp giống như một tác phẩm độc đáo của sự kết hợp giữa người và thiên nhiên.

Đặc trưng của vùng này còn là ngải đắng và ngói âm dương. Ngói âm dương viên úp viên ngửa hình lòng máng, chất lượng bằng đất nung nên mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông. Ngải đắng vẫn thường được dùng làm rau ăn của những gia đình nghèo, luộc bằng mấy nước rồi đổ đi cho đỡ đắng. Thương cho cây ngải đắng lặng lẽ xanh, đứng nơi địa đầu Tổ quốc. Càng thương bữa ăn giản đơn của những người dân chỉ có ngải đắng và mèn mén.

Tôi từng sống ở bản sâu của Sa Pa một tháng, đối với những người dân tộc Mông ở đây, lửa và nước cực kỳ quan trọng. Một cái bếp luôn đỏ lửa và những con suối trong lành là đủ cho cuộc sống của họ.

Còn người Mông ở Hà Giang, thường chỉ có bếp lửa luôn đỏ. Những con suối khan hiếm không đủ sức với những cánh tay dài tới họ, và quanh năm sự khô khát diễn ra. Những trận mưa xối xả, chỉ giải quyết cho họ nguồn nước tắm tức thời, hoặc vài ba cái nồi nhỏ tích lại chỉ đủ uống cho vài hôm. Và khi khô hạn, những người dân vẫn làm lụng với tấm áo cứng khô và dày tầng bụi bẩn.

Hỏi để được biết chợ ở vùng này thế này. Người đàn ông đi làm dưới nương ngô về chỉ tay "Kìa". Chợ hôm nay không họp nên chẳng có một mống người. Đó là một bãi đất được san phẳng và chia ô bằng những hòn đá nhỏ. Những cành cây dựng lên buộc vào nhau để làm lán tạm thời. Ngày họp chợ người ta mang bạt ra phủ, tan chợ lại dỡ xuống. Dũng đã thốt lên rằng: "Vậy là đủ rõ cho cuộc sống của họ, mọi thứ đều thiếu thốn, chỉ có sức sống thì đáng tự hào".

Nghỉ lại ở Lũng Cú để biết hương vị đêm của miền cực Bắc. Tiếng gió hú vọng ra từ vách núi, cả tiếng thì thào của những người đi nương, hay tiếng lục lạc bầy gia súc vọng lại. Đọt trăng non vừa nhô lên thoát ra khỏi một đỉnh núi duyên dáng như người con gái Mông trong ngày cưới. Tôi càng cảm nhận được sự hoang sơ thuần khiết của vùng này.

Trong đầu tôi lại hiện ra hình ảnh của lá cờ trên cột Lũng Cú. Đứng trên đó, tôi hận là mình chẳng đủ sức để hét lên rằng: Rất nhiều người nơi đây cần những bàn tay giúp đỡ. Và vì mình quá bé nhỏ, chẳng làm được gì cho con người nơi đây.

Hơi đêm thoáng lạnh nao nao, định làm một bài thơ giữa miền hoang sơ này, nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu. Ca ngợi họ ư, hay nói lên sức sống của họ trên cheo leo vách đá khắc nghiệt. Người dân đã tự viết lên bài thơ của họ trên cao nguyên rồi. Và bài thơ của tôi chỉ là một phụ họa nhỏ bé, nghe như tiếng thở dài giữa lưng chừng dốc

Diên Khánh
.
.
.