Người "nhặt vàng rơi" ở Tây Nguyên
"Hồi còn nhỏ, nghe cha mẹ kể sử thi mà lòng tôi mê mẩn. Lớn lên đi học trường Tây nhưng tôi vẫn không thể quên nỗi đam mê sử thi M'Nông. Cuộc đời "ba chìm, bảy nổi" nhưng sử thi vẫn "ăn" sâu vào lòng tôi cho đến tận bây giờ…" - Điểu Kâu, người mang hồn sử thi M'Nông ở Tây Nguyên thổ lộ nỗi niềm của mình.
Điểu Kâu sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học và đam mê sử thi ở bon (buôn) Bu Mrăng, xã Quảng Trực, huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông bây giờ. Thời Pháp đô hộ, mọi trí thức tài giỏi đều bị chôn vùi trong sự đàn áp dã man của giặc. Cha mẹ Điểu Kâu dẫu có học, có tài nhưng cũng phải nép mình sau bóng cây kơnia mà hát sử thi tự vui với mình. Sử thi như món ăn không thể thiếu mỗi ngày, lên rẫy, về nhà lúc nào cũng hát kể sử thi (tiếng M'Nông: ot ndrong; tiếng Êđê gọi là kể khan) để giải buồn.
Sử thi M'Nông "tắm mát" cuộc đời
Nhà Điểu Kâu có 4 anh chị em, ai cũng mê sử thi M'Nông lắm! Mỗi lần cha mẹ hát thì cả nhà hát theo, kể theo. Giọng Điểu Kâu hát kể sử thi không hay bằng các anh trai và em gái của mình, nhưng ngược lại, chàng trai này được trời phú có một trí nhớ tuyệt vời. Lớn lên, Điểu Kâu đi học trường Tây nhưng niềm đam mê sử thi vẫn không nguôi ngoai trong con người cậu học sinh M'Nông này. "Đó là cái hồn văn hóa dân tộc làm sao quên được" - Điểu Kâu bảo thế. Nhưng muốn bảo tồn văn hóa phải có ngôn ngữ chữ viết để ghi chép, sưu tầm sử thi.
Những năm 1970, vừa dạy học, Điểu Kâu vừa tập hợp các giáo viên dân tộc thiểu số M'Nông cùng soạn ra chữ viết M'Nông trên cơ sở dựa từ tiếng Việt ghép theo cách nói của người M'Nông. Sách đã soạn đến lớp 3 rồi nhưng chưa đưa vào giảng dạy thì bị chiến tranh thiêu rụi.
Niềm đam mê nghệ thuật đã không làm ông nản lòng. Sau ngày đất nước giải phóng, Điểu Kâu có điều kiện hơn để làm công việc sưu tầm sử thi của mình. Thường ngày ngoài việc tham gia công tác xã hội, Điểu Kâu còn tự mình lặn lội khắp nơi để "nhặt" những bài sử thi M'Nông lưu lạc trong dân gian. Ông cứ "nhặt" và chép theo cách sưu tầm của riêng mình, rồi đem về cho anh trai là Điểu Klít hát cả bon cùng nghe. Đêm đêm bên ánh lửa hồng rực rỡ, anh em nhà Điểu Kâu thay phiên nhau say sưa hát kể sử thi cho bà con trong bon thưởng thức như một niềm tự hào dân tộc.
Điểu Kâu tâm sự, mỗi bài sử thi là một câu chuyện gắn liền với đời sống lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân M'Nông ở bon. Tiăng là nhân vật điển hình, chi phối xuyên suốt trong những câu chuyện sử thi M'Nông. Chuyện xưa kể rằng, Tiăng là một già làng tài giỏi và có uy tín nhất trong bon người M'Nông. Tài trí của ông đã khiến cho tất cả dân làng mến phục, yêu quý và lấy tên người đặt tên bon Tiăng. Hình ảnh thiên nhiên trong các tác phẩm sử thi M'Nông chủ yếu xoay quanh các ngọn núi Nâm Nung, Nâm Yang, Nâm Brah và các con suối Dak Huch, Dak Glung thuộc tỉnh Đắk Nông và Bình Phước bây giờ.
Điểu Kâu tâm sự: "Tôi sinh ra và lớn lên trong tình thương yêu bao la của cha mẹ và được "tắm" mình bằng những dòng sử thi M'Nông. Hạnh phúc và niềm đam mê không thể nào quên".
Chuyện tình Điểu Kâu và nỗi niềm sử thi
Những năm tháng dạy học ở Bình Long (Bình Phước bây giờ), Điểu Kâu đem lòng yêu một người con gái quê ở Trà Vinh tên là Trần Thị Nguyệt. Nguyệt nhỏ hơn Điểu Kâu 5 tuổi, nhưng bố mẹ mất sớm nên nàng ở với anh chị làm nghề may bên trường học Bình Long. Nguyệt đẹp lắm, nhan sắc của người con gái ở miền sông nước này đã làm đắm say không ít chàng trai, nhưng nàng chỉ yêu chàng trai M'Nông Điểu Kâu.
Thường ngày, sau mỗi giờ tan trường, hai người gặp nhau qua ánh mắt đưa tình của tuổi trẻ, rồi từ đó đem lòng nhớ thương nhau. Một hôm, Điểu Kâu đến thăm nhà học sinh ở gần nhà Nguyệt, thấy nàng đang ngồi trước cửa như đợi chờ ai đó, Điểu Kâu đã mạnh dạn ghé sang thăm. Lần đầu tiên gặp nhau ai cũng bối rối không nói nên lời. Rồi dần về sau, hai người đến với nhau thường xuyên hơn và kể cho nhau nghe những câu chuyện ở quê mình.
Nguyệt kể cho Điểu Kâu nghe chuyện sông nước miền Tây, người miền Tây chân chất thật lòng. Còn Điểu Kâu thì kể cho nàng nghe những câu chuyện sử thi của Tây Nguyên hùng vĩ. Những câu chuyện tình ở bon Tiăng trong sử thi M'Nông thật đẹp và lãng mạn. Điểu Kâu và Nguyệt cũng luôn mong ước tình yêu của mình đẹp đẽ như trong sử thi. Hai người hứa với nhau chung sống trọn đời cho đến khi đầu bạc răng long.
Rồi chuyện tình yêu thật lãng mạn của chàng trai M'Nông với cô gái Kinh này đã vượt qua bao phong ba bão táp đến với nhau thành nghĩa vợ chồng. Năm 1958, hai người tổ chức đám cưới tại trường, một năm sau chuyển về quê ở Đắk Nông sinh sống và sinh được 2 người con, một trai, một gái. Cuộc sống vợ chồng tuy nghèo nhưng hạnh phúc, thường ngày họ vẫn bên nhau say đắm với những câu chuyện sử thi ở núi rừng Tây Nguyên yêu quý. Còn về chuyện làm dâu, Nguyệt rất yêu quý cha mẹ chồng, thường ngày có cái gì quý cũng mang về cho cha mẹ, nàng chăm sóc từng ly, từng tý lúc ông bà ở tuổi xế chiều của cuộc đời. "Nhưng rồi định mệnh thật trớ trêu, "yàng" (ông trời) đã bắt nàng Nguyệt đổ bệnh thần kinh, lúc tỉnh lúc mê" - Điểu Kâu kể về vợ thật buồn.
Thường ngày Điểu Kâu ở nhà chăm sóc vợ mỗi khi lên cơn, trở bệnh. Nhưng hôm đó có việc tổng kiểm tra dân số, Điểu Kâu là tổ trưởng nên phải dắt con gái 4 tuổi đi cùng. Ở nhà một mình, trong cơn điên Nguyệt đã bỏ nhà ra đi biền biệt. Đến khi xong công việc ở xã, cha con Điểu Kâu dắt nhau về nhà thì chồng không thấy vợ, con không thấy mẹ đâu nữa. Cả nhà đổ xô đi tìm khắp nơi nhưng rồi cũng biệt tin. Một thời gian sau nghe có người nói Nguyệt đang lang thang ở Bù Đăng - Bình Phước nhưng Điểu Kâu đi tìm vẫn không thấy và biệt tăm mãi cho đến giờ. Hôm nay nhắc lại, Điểu Kâu nói: "Dẫu không còn bên nhau, nhưng Nguyệt vẫn trọn đời sống trong tôi như những bài sử thi".--PageBreak--
Vợ ra đi khi Điểu Kâu tròn 44 tuổi, bỏ lại hai đứa con thơ dại. Điểu Kâu một mình lặn lộn khắp nơi để dạy học và kiếm sống qua ngày, nuôi 2 đứa con thơ cho đến ngày khôn lớn. Sau những giờ ở giảng đường, ông lại đắm mình bên những trang sử thi M'Nông. Điểu Kâu kể: "Năm 1986, có người ở Viện Nghiên cứu văn hóa tên là Đỗ Hồng Kỳ xuống tận bon để gặp tôi và tập trung một số nghệ nhân trong bon lại bảo kể sử thi để ghi âm".
Điểu Kâu bảo: "Chuyện sử thi dài lắm, mỗi chuyện hát kể 3 ngày, 3 đêm chưa hết. Nhưng ông Kỳ vẫn bảo cứ hát một đoạn xem sao". Rồi anh của Điểu Kâu là Điểu Klít hát cho các nhà sưu tầm, nghiên cứu thu đầy một băng 90 phút, sau đó nhờ Điểu Kâu dịch được nửa băng mang về nghiên cứu. Một thời gian sau, các nhà nghiên cứu tiếp tục quay lại thu hết một bài sử thi, 15 băng, mỗi băng 90 phút, nhờ Điểu Kâu dịch trong 2 năm mới xong. Và cuốn sách sử thi M'Nông đầu tiên ra đời mang tựa đề "Sử thi cổ sơ M'Nông" do Đỗ Hồng Kỳ và Điểu Kâu đứng tên.
Điểu Kâu không nhớ cuốn sách này đã cho mình mấy triệu tiền "nhuận bút", nhưng ông cảm thấy vui sướng và hạnh phúc thật sự vì cả đời ông mơ ước, ấp ủ mà đến tận bây giờ mới làm được. Rồi từ cuốn sách này đã mở ra một dự án sưu tầm, nghiên cứu sử thi M'Nông từ năm 2000 đến giờ.
Sau đó, Điểu Kâu cũng đã dịch cho Sở Văn hóa Thông tin Đắk Lắk xuất bản các tập sách sử thi như: "Cây nêu thần", "Mùa rẫy bon Tiăng", "Bán tượng gỗ" và hàng ngàn trang sử thi khác mà Sở đang lưu giữ chưa xuất bản thành sách. Ông bảo: "Mình làm vì niềm đam mê, còn tiền bạc không đặt vấn đề. Sở Văn hóa Thông tin Đắk Lắk xoay xở lúc cho năm trăm, một triệu không đáng là bao, nhưng cái quý hơn là ở tấm lòng".
Còn dự án của Trung ương từ năm 2000 đến giờ, Điểu Kâu đã dịch 13 bài sử thi, in thành 13 tập sách và một số bài đang in. Bây giờ ông đã bước sang tuổi 71, nhưng sau mỗi giờ dạy học, ông vẫn miệt mài với từng trang sử thi. Điểu Kâu nói: "Dự án đến năm 2007 là kết thúc, nhưng sử thi thì không biết bao giờ mới dịch hết". Điều mà Điểu Kâu buồn nhất là chưa tìm được người thay ông dịch sử thi M'Nông. Một số kẻ theo "tà đạo" ở bon thì bảo: "Không kể sử thi làm gì, chuyện xưa bỏ đi". Nghe những câu ấy, Điểu Kâu ốm mấy ngày không ăn không uống.
Viện Văn hóa dân gian cũng đã từng cho mở lớp đào tạo được 6 em học sinh từ lớp 7 đến lớp 12 học dịch, kể sử thi nhưng được một thời gian thì các em cũng bỏ đi làm việc khác hết. Ông bảo lớp trẻ bây giờ chuyện gì cũng gắn với tiền, cái ăn, cái mặc. Học mỗi buổi các cháu được bồi dưỡng 10.000 đồng nhưng chúng chê ít, đi làm việc khác nhiều tiền hơn, thế là chúng bỏ. Điều mà Điểu Kâu ao ước bây giờ là đưa sử thi vào dạy thành môn học chính khóa ở trường phổ thông từ cấp hai trở lên gắn với việc dạy tiếng M'Nông. Ông bảo: "Nghe tin Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Nông đã có chương trình làm sách dạy tiếng M'Nông tôi mừng lắm. Ý định tôi là muốn đưa sử thi vào từng trang sách dạy tiếng M'Nông nhưng không biết có được đồng ý không. Vả lại đến giờ cũng chưa thấy ai mời tôi tham gia làm sách nên không biết thế nào".
Kho tàng sử thi M'Nông nói riêng và sử thi các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên vẫn đang còn tiềm ẩn nhiều vốn quý mà chúng ta chưa "nhặt", chưa khám phá, khai thác hết. Và ở đây tôi vẫn thấy Điểu Kâu từng ngày đêm miệt mài dịch từng trang sử thi cho đời mà không cần ăn lương của Nhà nước. Ông quý sử thi và "nhặt" nó như được vàng rơi. "Tôi còn sống ngày nào thì cống hiến hết mình vì những trang sử thi" - Điểu Kâu tâm sự