Người đàn bà đầu tiên và duy nhất của GS. Trần Văn Giàu
Hiếm có cặp vợ chồng nào cùng sống với nhau đến 93 tuổi. Bao nhiêu năm qua, anh chị Giàu gắn bó với nhau, đầm ấm, hạnh phúc, dù không có con. Nếu kỷ niệm ngày cưới của anh chị, chắc sẽ là “đám cưới kim cương”, mà còn hơn thế nữa.
Gần cả cuộc đời, 60 năm duyên nợ với nghề báo, nghề văn, ngồi một chỗ lâu, tôi không chịu nổi. Con gái tôi chỉ dọa được tôi mấy ngày cuối năm của năm tuổi: "Mẹ chịu khó ngồi nhà cho hết năm tuổi đã". Tôi biết nó cũng chẳng tin gì, là nhà khoa học lại hơn một nửa cuộc đời ở bên Tây, nhưng tôi vẫn phải nghe lời nó. Đợi cho qua tết Quý Mùi, tôi "khăn gói" lên đường ngay. Đầu tiên, tôi đi tàu hỏa vào Đà Nẵng thăm thành phố theo lời mời của Mặt trận Tổ quốc Đà Nẵng. Sau đó, tôi lên máy bay, bay tiếp vào Sài Gòn. Trong ấy, Nhà xuất bản Tổng hợp TP HCM đang in cuốn Hồi ký "Đường sáng trăng sao" của tôi. Tôi còn muốn gặp gỡ với các bạn bè của anh Lê Quang Đạo, chồng tôi, để làm một cuốn phim cho anh.
Qua điện thoại, giọng ông Trần Văn Giàu còn rất khỏe:
- Tôi tưởng chị ra Hà Nội rồi, chị đến ngay đi.
Một biệt thự xinh xắn nằm sâu trong con hẻm rộng xế trước mặt Trường đại học Bách khoa. Nơi đây khá xa trung tâm thành phố. Bán ngôi nhà Chính phủ cấp ở phố Phạm Ngọc Thạch, Giáo sư dành phần lớn tiền làm giải thưởng Sử học. Giáo sư còn dành tiền cho vợ xây dựng trường mẫu giáo xã Phú Ngãi Trị.
Dáng cao gầy, ở tuổi 93, ông còn rất minh mẫn. Giáo sư ân cần tiếp tôi với hai cốc nước đã rót sẵn. Sau lưng giáo sư là hai tủ đầy sách. Nói chuyện một lúc, ông chậm rãi đứng dậy, nói với tôi: "Chị vào đây thăm nhà tôi một chút. Thỉnh thoảng bà nhà tôi vẫn nhắc đến chị". Tôi theo anh, bước vào căn phòng ngủ nhỏ, thoáng. Mâm cơm đặt sẵn bên chiếc bàn nhỏ cạnh giường chị nằm. Một khúc cá rim cà chua, một bát canh rau, vài miếng thịt kho. Giáo sư đến cạnh chị, ân cần: "Mình ơi, chị Nguyệt Tú đến thăm này".
Năm nay, bà Giàu cũng 93 tuổi. Trông chị yếu hơn lần trước tôi gặp. Chị đi lại khó khăn nên chỉ quanh quẩn trong căn phòng nhỏ. Tôi hỏi:
- Chị có nhớ Nguyện Tú không?
Chị vẫn lim dim mắt:
- Tôi thương cô Tú lắm. Tôi vẫn nhớ hồi nằm trị bệnh với cô ở bệnh viện.
Đã hơn 40 năm rồi mà chị vẫn nhớ. Ngày ấy, sau hòa bình, chị Giàu mới ở miền
- Hai vợ chồng tôi cùng tuổi Tân Hợi. Chữ Tân mang nhiều tính chất gian nan hay sao mà cuộc đời của tôi và nhà tôi đều vất vả. Lấy nhau từ những năm 1929-1930 mà tính ra chỉ sống được với nhau mấy tháng cho đến ngày hòa bình. Anh ấy đi học, đi tù, bị bắt đi bắt lại.
Tôi hỏi vui:
- Xa cách lâu, chị có lo anh có ai khác không?
- Tôi lo lắm chứ, nhất là nhiều năm bặt tin tức. Tôi cũng nhờ bạn bè dò hỏi nhưng thật ra anh chẳng có ai. Ngay hồi đi học, tôi cũng nghe anh không có bạn gái.
Thấy chị buồn, tôi thường kể những câu chuyện vui cho chị đỡ nhớ anh, nhớ miền
GS. Trần Văn Giàu tại Lễ trao giải thưởng Hồ Chí Minh.
Thường thường, giáo sư ít tiếp khách khi sắp tới giờ ăn. Nhưng hôm nay, ông rất nhiệt tình. Ông đã đọc hết bản thảo Hồi ký "Đường sáng trăng sao" của tôi. Có lẽ, cuốn hồi ký làm ông nhớ nhiều đến anh Lê Quang Đạo. Ông Giàu và anh Đạo rất quý nhau. Vừa gặp tôi, ông nói:

- Viết hồi ký khó lắm. Viết hồi ký và viết chuyện của mình lắng đọng lại qua thời gian, nhớ gì, mình ghi ra. Cái hồi ký là cái lòng ghi hơn là cái trí ghi. Nói cái đúng, cái sai, nhớ lại thời kỳ xảy ra sự việc. Nguyệt Tú là nhà báo có tâm. Tú làm xong cuốn hồi ký là làm được một việc thiện. Bây giờ, Tú muốn nghe chuyện vợ chồng tôi, tôi sẽ kể. Chắc Tú cũng đã nghe bà nhà tôi kể một phần.
Giáo sư Trần Văn Giàu trầm ngâm:
- Tôi đã có lỗi với bà ấy. Tôi đã cân nhắc lớn nhỏ, nặng nhẹ trong đời sống gia đình. Ai cũng nghĩ tôi có nhiều bạn gái, nhưng không phải đâu. Tôi sống trong thơ mộng, tiểu thuyết nhiều hơn thực tế. Trước khi gặp bà Giàu, tôi là một thanh niên không có “mèo”. Má tôi nói, tôi đẻ ngày 14/7 năm Tân Hợi. Tôi là con nhà khá giả, học giỏi. Lớn lên, có vợ, sẽ được chia mấy mẫu ruộng, vườn. Tôi là một gã thanh niên y như ngày xưa, một thanh niên chí thú học hành, lo cho tương lai của chính mình. Tôi là một thanh niên khô khan, từ tiểu học đến trung học đều học giỏi. Nhờ nổi tiếng học giỏi, nhà ấy mới gả con gái cho, cho rằng tôi là người biết lo.
Năm 1925, lúc tôi 16 tuổi, sôi nổi lắm. Ông cụ tôi là chủ điền, không làm công chức gì, chỉ chăm lo cho gia đình. Mỗi năm đến ngày 3/3 là thanh minh đi tảo mộ. Năm nào tôi cũng đi tảo mộ. Bảy mộ giống hệt nhau, nằm cạnh nhau. Bảy ông bị bắn trong cuộc khởi nghĩa của thủ khoa Huân. Thủ khoa Huân đã lấy làng bố vợ tôi làm tổng hành dinh. Nhà ông nội vợ tôi rất giàu. Nhà lớn có 92 cây cột. Xung quanh nhà có 6 hàng rào tre trông như cái lũy. Nhà nhiều lúa gạo để nuôi quân cho thủ khoa Huân. Sau này, nghe kể, Pháp đốt một tháng mới cháy hết. Cuộc khởi nghĩa thất bại. Trong gia đình tôi có 7 người bị Tây bắn chung với nhau. Việc đi thăm “mả bảy” hàng năm in sâu trong đầu tôi. Tôi mang tư tưởng “mả bảy” lên Sài Gòn học. Ngoài việc học, tôi chỉ nghĩ đến làm chính trị, không nghĩ “mèo chuột” gì đâu.
16 tuổi, tôi tham gia phong trào để tang Phan Chu Trinh, ủng hộ Nguyễn An Ninh. Năm 1928, tôi tính qua Pháp trong vòng 7 năm để lấy 2 bằng thạc sĩ: bằng tiếng Anh và bằng Luật. Tôi muốn viết tiếng Pháp giỏi để về Sài Gòn làm báo và một bằng Luật để mở văn phòng luật sư. Tôi muốn làm báo như ông Nguyễn An Ninh với ông Phan Văn Trường. Tôi nghĩ, lo xong sự nghiệp rồi mới lấy vợ. Nhưng tôi đồng ý với gia đình là đi hỏi vợ trước khi đi Tây. Bà Giàu đẹp, biết cả chữ nho, chữ quốc ngữ. Bên nhà bà Giàu thấy tôi có chí, đồng ý làm đám hỏi nhưng chưa cưới. Hai bên trầu cau đàng hoàng rồi tôi mới đi. Các cụ nói: “Con trâu nó lớn rồi, phải có cái cọc mới buộc lại được”. Các cụ nói phải buộc lại, dù dây có dài cũng là buộc được.--PageBreak--
Sang Pháp, tôi học môn gì cũng giỏi. Một hôm, tôi đi dự buổi míttinh, người Pháp ủng hộ Việt
Tôi về Sài Gòn, không nghề nghiệp, không bằng cấp, biết nói sao với cha mẹ, chú bác nhà cô Giàu. Tôi nghĩ, chắc họ sẽ từ hôn, ai mà gả con gái cho một người như tôi. Điều bất ngờ là gia đình bên ấy vẫn cho tôi cưới. Bên nhà gái giục làm đám cưới ngay. Đám cưới được tổ chức vào tháng 10/1930. Tôi làm giáo sư trường tư thục ở Sài Gòn, bà Giàu vẫn ở quê nhà. Đảng Cộng sản Pháp giới thiệu tôi với Đảng cộng sản Đông Dương, đại diện là ông Ung Văn Khiêm. Tôi ở trọ nhà anh em bạn. Thỉnh thoảng bà Giàu lên thăm. Tôi phụ trách thanh niên cộng sản. Cơ quan tôi bị lộ. Tôi và anh Hải Triều, Hoàng Hữu
Đoàn thể cử tôi đi học ở Nga năm 1931. Năm 1933, tôi về nước. Lúc đó, tôi cũng không được về ngay. Tôi sống trên một cái thuyền có mui. Trong người có 300 đồng Đông Dương. Ở nhà, không ai biết tôi còn sống hay chết, kể cả vợ tôi. Sau này, bà kể với tôi, bà đợi mãi tưởng tôi chết rồi, vào chùa tu nhưng không cắt tóc. Bà vào chùa để khỏi bị người ta coi mặt, mai mối. Rồi ở đó, bà học nghề dệt, làm tương, làm chao.
Cuối năm 1933, tôi bị bắt, nhưng chúng không có cớ gì, chỉ kết được tội là dân lang thang không nhà cửa. Chúng giam tôi mấy tháng rồi thả.
Khi về, hai vợ chồng ở với nhau được hai tháng. Tôi lại dạy trường tư thục, anh Hoàng Minh Giám làm hiệu trưởng. Vợ tôi có thai, sinh bé gái, đặt tên là Lan. Con gái tôi mất khi còn rất nhỏ.
Sau đó, tôi lại bị bắt, xử 5 năm tù treo, 10 năm biệt xứ. Ở tù mãn 5 năm, tôi được về quê. Vợ chồng ở với nhau được hơn một tuần lễ thì mật thám Tây lại bắt đi. Đến tháng 4/1935, tôi bị xử 5 năm tù và đày đi Côn Đảo. Bà Giàu vô khám thăm tôi. Tôi nói: "Mình ơi, có mỗi đứa con gái đã chết rồi. Đi lấy chồng khác đi. Tôi đi đày Côn Đảo không biết sống chết thế nào, đừng chờ tôi nữa". Bà Giàu chỉ nói rằng: "Ngày tôi tiễn anh đi Pháp, anh có mua cho tôi một quyển Lục Vân Tiên. Anh còn nhớ tích truyện Kiều Nguyệt Nga với Lục Vân Tiên không?".
Bà Giàu tiễn tôi đi Côn Lôn. Năm 1936, sau khi có Mặt trận Bình Dân, địch đưa một số tù từ Côn Đảo về khám Lớn. Mỗi tháng, bà Giàu đến thăm tôi một lần. Đến ngày mãn tù, tôi được thả. Vợ tôi đón tôi ở cửa khám. Tôi phải đến Sở Mật thám để lăn tay. Nó giữ tôi một tiếng mới cho ra. Hai vợ chồng dắt nhau đi trên phố Sài Gòn như cưới lại sau mười mấy năm lấy nhau. Về nhà, má tôi mua gà vịt về bồi dưỡng. Tôi ho ra máu, phải uống tiết vịt. Tôi về được ba ngày, có người của Đảng đến, bảo tôi tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ. Tôi chưa đi. Tôi ở nhà chỉ được một tuần, có lính đến kêu cửa: "Có giấy đòi anh lên Tân An".
Nếu tôi chạy ra cửa sau thì thoát được nhưng lại nghĩ mình chưa làm gì nên không trốn. Khi ấy, vợ tôi không có nhà. Lính dắt tôi đi. Mẹ tôi ngã xuống đất. Tôi bị đưa vào trại giam Tà Lài ở Biên Hòa, cách quê 120 cây số.
Tôi vượt ngục Tà Lài năm 1941. Không về nhà làm mùa, tôi chỉ lo làm cách mạng.
Cách mạng Tháng Tám thành công. Sau 23 ngày, tôi cho xe về đón vợ lên Sài Gòn. Ở Sài Gòn được hai tuần thì kháng chiến bắt đầu. Từ tháng 11, bà Giàu vào chiến khu, đi bộ đội ở Tiền Giang, làm Trưởng ban Quân trang thuộc Tổng cục Hậu cần. Lúc đó, tôi ra Bắc đi các nước, rồi trở về Bắc ở cho đến sau chiến thắng Điện Biên Phủ.
Năm 1954, vợ tôi ra tập kết, hai vợ chồng tôi đoàn tụ. Tôi dạy Đại học Tổng hợp Hà Nội. Chính phủ cấp nhà cho hai vợ chồng tôi ở gần trường đại học. Thế là sau bao nhiêu năm lận đận xa cách, vợ chồng tôi mới được sống bên nhau. Nghĩ lại, bà ấy cũng giỏi chờ đợi những năm tháng tôi bị đi tù. Năm 1976, sau giải phóng miền
Sợ Giáo sư mệt, tôi chỉ dám xin gặp một tiếng đồng hồ. Giáo sư hứa, lần gặp sau, ông sẽ kể nhiều chuyện hơn về vợ ông, người đàn bà đầu tiên và duy nhất của cuộc đời mình
