Người chiến sĩ cảm tử Điện Biên: Vẫn tìm đồng đội

Thứ Tư, 18/02/2009, 08:45
Xuôi dòng Thạch Hãn, chúng tôi về Triệu Độ - Triệu Phong (Quảng Trị) tìm gặp ông Hoàng Hải Nam - cảm tử quân, chiến sĩ Điện Biên nổi tiếng một thời với những trận đánh bom cảm tử. Thật bất ngờ trước dáng vẻ rất nghệ sĩ của ông. Ngồi tựa vào góc nhà, ôm đàn ghi ta, vừa chơi nhạc vừa hát những bài ca kháng chiến để ôn lại những kỷ niệm xưa thời trai trẻ xông pha trận mạc...

Chuyên gia đánh bom cảm tử

Sinh ra trong một gia đình trung nông, giàu truyền thống cách mạng, nên từ nhỏ cậu bé Nam đã ấp ủ giấc mơ cầm súng giết giặc. Khi vừa tròn 7 tuổi thì bố bị tù đày tra tấn cho đến chết, chú, anh trai anh dũng hy sinh trong trận chống càn, nên ngay sau khi đỗ tốt nghiệp sơ học yếu lược (cấp học phổ thông) chàng trai Hoàng Hải Nam xếp lại bút nghiên ghi tên mình vào Đội cảm tử quân Lê Hồng Phong đầu tiên ở Quảng Trị.

"Năm 1945, sau khi tham gia cướp chính quyền, tui có trình độ nên được gọi vào làm thư ký cho Ủy ban hành chính kháng chiến xã, nhưng ngọn lửa căm thù giặc trong người luôn cháy bỏng nên tui quyết tâm cầm súng ra trận để quyết sống chết với giặc.

Tui tên thiệt là Hoàng Bá Nam, khi ấy cùng đăng ký vào cảm tử quân có thêm một thanh niên trong làng là Nguyễn Văn Hải, nên tui lấy tên anh làm chữ lót cho mình thành Hoàng Hải Nam, anh Nguyễn Văn Hải lấy tên tui làm chữ lót thành Nguyễn Nam Hải để nguyện thề trước dân làng cùng sống chết bên nhau", nói chưa dứt câu, ông lấy khăn lau nước mắt "chiến tranh nó nghiệt ngã là thế đó!".          

Ước mơ cầm súng ra trận rồi cũng được toại nguyện, ấy là vào ngày 10/7/1946 tại đình làng thôn Gia Độ, xã Triệu Độ, chính quyền, dân làng đã long trọng làm lễ tiễn đưa 2 thanh niên gia nhập cảm tử quân, đồng thời cũng làm lễ truy điệu sống cho hai người với đầy đủ nghi thức.

"Xác định rõ đã tham gia vào Đội cảm tử này là chấp nhận hy sinh, nên khi ra đi hai anh em tui phải lánh mặt mẹ già, bà con, tránh những giọt nước mắt thương cảm của dân làng. Làm xong lễ là vác ba lô chạy rất nhanh ra bờ sông giục người chèo đò vượt sông nhanh...".

Sau lần ra đi ấy Hải Nam và đồng đội đã liên tiếp tổ chức đánh những trận cảm tử ác liệt gây tiếng vang từ Khe Sanh, Ái Tử đến Thừa Thiên - Huế.

Vào một chiều năm 1947, chuẩn bị hành quân thì hay tin người đồng đội lấy tên mình làm chữ lót Nguyễn Nam Hải đã hy sinh trong lúc ôm bom vào đánh cảm tử ở một địa điểm ở thành phố Huế. Sự đau thương mất mát của đồng đội đã biến thành lòng căm thù giặc sâu sắc, thôi thúc anh quyết tâm giết giặc.

Ngay sau đó nhận tin báo có một đoàn xe chở lính lê dương từ Lào về Việt Nam qua quốc lộ 9, Hải Nam đã xung phong cùng tiểu đội 6 người quyết chặt đứt tuyến hành quân này. Anh đã chọn cầu Đầu Mầu - một chiếc cầu quan trọng trên quốc lộ 9 ở vị trí hết sức xung yếu để đánh bom cảm tử.

Bom nổ, đường tiếp viện của địch bị chặt đứt, 3 chiếc xe chở đầy lính lộn cổ xuống sông. Lợi dụng lúc chúng hoảng loạn Hải Nam cùng đồng đội lao ra cướp vũ khí để đánh trả những chiếc xe địch từ phía sau, không may anh bị địch bắn vào cẳng chân. Rồi được đồng đội đưa về hậu cứ Cam Lộ băng bó vết thương đưa ra Bắc.

"Những ngày nằm điều trị vết thương ở Nghệ An là những ngày buồn, đêm mô cũng nằm mơ mình được ra trận, ôm bom lao vào đồn giặc, bom nổ thì tỉnh giấc. Khao khát cháy bỏng ấy đã giúp tui ngày đêm rèn luyện, chiến thắng được vết thương".

Chàng lính trẻ Hải Nam được sung vào Đại đội 62 - Tiểu đoàn 80 - Trung đoàn 36 - Đại đoàn quân tiên phong (Sư đoàn 308) hành quân ra Bắc tiếp tục với những trận đánh ác liệt từ đồng bằng, đến trung du, miền núi. Nhiệm vụ của anh là đánh cảm tử, ôm bộc phá lao vào phá hàng rào, lô cốt để đột phá khẩu cho các lực lượng tiến vào đánh chiếm các đồn bốt của địch. Đây là nhiệm vụ rất hiểm nguy.

Khi đánh chiếm một đồn bốt, đơn vị của ông thường có vài người. Theo nguyên tắc mỗi người ôm một quả bộc phá chừng 25 đến 30kg, người trước lao lên giật dây nổ chậm là thụt lùi từ 5 đến 7m nằm sấp xuống đất, người sau thấy ánh chớp loé lên là phải lao lên tiếp tục như thế. Nếu chậm chỉ cần vài giây hoặc là cảm tử, hoặc là bị địch phát hiện dập pháo ngay tức khắc. Do đó, rất nhiều đồng đội của anh vĩnh viễn không trở về. 

"Đánh cảm tử không chỉ đòi hỏi lòng dũng cảm, thông minh mà phải hết sức nhanh nhẹn, quan sát nhanh, xử lý tình huống phải chuẩn xác, nếu không là xương và máu đổ xuống chiến hào", ông giải thích.   

Sau nhiều trận đánh cảm tử thành công, năm 1953 Hải Nam được vinh dự tặng nhiều Huân, Huy chương các loại và được cấp trên tín nhiệm đề bạt Tiểu đội phó và tiếp tục cuộc hành quân lên Tây Bắc qua Trung Lào, Thượng Lào, giải phóng Sầm Nưa...

Ông Hoàng Hải Nam (ở giữa) cùng đồng đội khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội năm 1954.

Năm 1954, đơn vị của ông được điều động tham gia chiến dịch đánh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Sau khi đánh chiếm thành công đồi Bản Kéo, đơn vị Hải Nam được lệnh phối hợp cùng các lực lượng tiếp tục đánh vào đồi A1 - cứ điểm quan trọng số một của Trung tâm chỉ huy địch. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, giành giật nhau từng tấc đất, đơn vị của anh hy sinh hơn một nửa.

Khi đánh đến lô cốt thứ hai sức ép của bom, đạn, pháo địch đã làm anh ngất đi, nhưng chỉ sau vài phút choàng tỉnh, thấy đồng đội của mình đang bị thương, trên tay đang ôm quả bộc phá, anh liền nhảy lên cướp quả bộc phá trong tay đồng đội lao lên đánh tan lô cốt thứ 3 mở đường cho các lực lượng từ phía sau tiến thẳng vào trung tâm địch...

Ngày 10/10/1954, Hoàng Hải Nam và đồng đội vinh dự được góp mặt trong đoàn quân chiến thắng tiến về tiếp quản Thủ đô, "Đó là những ngày hạnh phúc nhất không có gì hơn trong cuộc đời người lính chúng tôi". Năm 1961, sau khi không được tiếp tục vào Nam chiến đấu vì lý do sức khỏe (3 lần bị thương) nên Hoàng Hải Nam được cấp trên phân công đảm nhiệm các chức vụ ở Trường Đào tạo sĩ quan Pháo binh, Trường Văn hóa Quân đội cho đến ngày đất nước hoà bình.

"30 năm báo tử"!

Cái ngày mà ông làm lễ lên đường gia nhập Đội cảm tử quân, cũng là ngày mà bà mẹ ông lấy làm ngày giỗ hàng năm cho ông trong suốt 30 năm dằng dặc, bởi thời gian ấy ông không hề hay tin cho gia đình biết, "Chiến tranh ác liệt nếu biết tin mình còn sống là bà cụ thêm lo lắng, trở thành gánh nặng tinh thần. Vả lại nếu địch nó biết được có con tham gia cách mạng thì bà cụ sẽ không được yên thân, mặc dù thời gian này qua liên lạc tui vẫn biết bà cụ còn sống. Suy nghĩ mãi tui quyết định im lặng, nén lại nỗi nhớ vào trong để đợi ngày hoà bình về với mẹ, với quê hương".

Mãi đến năm 1975, khi quê hương đã hoàn toàn giải phóng, vào một chiều đầu Xuân chàng lính trẻ cảm tử Hải Nam năm nào rời đình làng ra đi trong khói lửa bây giờ trên đầu đã có hai thứ tóc vác ba lô ngơ ngác tìm đường về quê mẹ làng Gia Độ, xã Triệu Độ, huyện Triệu Phong trong sự ngỡ ngàng của người mẹ già và bà con làng xóm.

"Lúc đầu mẹ tui không tin con mình còn sống và trở về bằng xương bằng thịt, nhưng khi tui ôm mẹ khóc, bà nhận ra và ngất đi. Khi tỉnh dậy chỉ tay lên bàn thờ bà nói: "Bàn thờ mẹ đã thắp hương thờ con từ 30 năm rồi đó!". Kể đến đây ông ngẹn ngào lau nước mắt, không nói nên lời, đứng dậy thắp hương lên bàn thờ bà cụ...

Chia tay tôi, ông đưa một tấm hình chụp cùng hai đồng đội, nhưng đã 55 năm rồi không hề có tin tức về nhau và nhờ đưa lên mặt báo để tìm lại đồng đội của mình năm xưa trong chiến tranh. Mong rằng, những người lính già đáng kính ấy sớm gặp lại nhau

Hữu Hà
.
.
.