Người chết trở về sau 43 năm
Một đêm giữa năm 1997, một ông cụ gõ cửa nhà chị Nguyễn Thị Ngà ở thôn Đắc Nhơn, xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, hỏi tìm anh Mai Đình Cư, chồng chị Ngà. Cụ bảo: "Tôi là Mai Văn Lanh, cha của Mai Đình Cư". Chị Ngà không khỏi bàng hoàng bởi Mai Văn Lanh chính là tên người liệt sĩ hy sinh cách đó 43 năm, nhiều năm qua được gia đình chị thờ phụng khói hương.
Ông Mai Văn Lanh sinh năm 1922 tại thôn Lại Thế, xã Phú Thượng, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Họ Mai là một dòng họ lớn ở Phú Vang, cả hai bên nội ngoại của gia đình ông Lanh đều có khá nhiều người làm quan, ăn bổng lộc triều đình nhà Nguyễn. Nhưng gia đình Mai Văn Lanh vẫn không thoát cảnh cơ hàn. Bốn người gồm anh trai, chị gái và hai em ruột của Lanh đều nối nhau đi ở đợ kiếm cơm. Riêng Lanh không cam chịu sống kiếp tôi đòi, học hết lớp 3, anh bỏ nhà xuôi
Năm 1945, Khi Mai Văn Lanh đang làm công nhân một xưởng giấy của người Pháp ở xã Trung Lương, huyện Hoài Nhơn, Bình Định thì Cách mạng Tháng Tám nổ ra. Ngọn lửa nhiệt tình của một anh thanh niên đang náo nức trước vận hội giũ bỏ kiếp ngựa trâu đã giúp Mai Văn Lanh có mặt trong rất nhiều những biến cố trọng đại của dân tộc. Hết tham gia rải truyền đơn, dán áp phích, anh lại có mặt trong đội quân du kích áo vải chân đất của địa phương tiếp quản đồn Bồng Sơn, sau đó vào chiếm giữ đồn Qui Nhơn. Sau một thời gian gác đồn Qui Nhơn, Mai Văn Lanh được điều về một xưởng dệt cũ của Pháp ở xã Phú Phong, huyện Bình Khê. Tại đó anh được cấp trên phát súng và huấn luyện quân sự trong hai tháng.
Pháp quay trở lại, Lanh được điều về mặt trận Bàu Kho, giáp Buôn Ma Thuột. Ban đầu, anh được giao phụ trách huấn luyện quân sự cho một đội “Nữ giải phóng” của tỉnh Bình Định mới thành lập, sau đó trở thành xạ thủ phụ trách khẩu canon 25 ly của lực lượng Vệ Quốc đoàn địa phương.
Đoàn tụ với đại gia đình năm 1997
Năm 1950, khi đang là một tiểu đội trưởng Vệ Quốc đoàn, anh cưới vợ. Cũng giống như Lanh, chị Vi Thị Dương cũng xuất thân nghèo khó nên phải rời quê hương phiêu bạt. Hai vợ chồng đưa nhau về chợ Cát, thị trấn Tam Quan, huyện Hoài Nhơn, Bình Định vừa tham gia kháng chiến vừa lập nghiệp. Chị Dương chỉ biết chồng mình quê ở đâu đó gần thành nội Huế, anh Lanh cũng chỉ biết chị từ Quảng Ngãi vào, còn cụ thể xã nào, huyện nào thì cả hai đều không ai hỏi. Cha mẹ đôi bên, cả hai cũng chưa giáp mặt lấy một lần.

Tham gia kháng chiến, Mai Văn Lanh hầu như đi biền biệt, chỉ thỉnh thoảng mới có dịp ghé ngang nhà thăm vợ. Năm 1952, họ có với nhau một cô con gái đặt tên là Mai Thị Bính. Hai năm sau, trong một trận đánh ác liệt, Mai Văn Lanh bị thương. Cả tiểu đội hơn chục người chỉ còn lại mỗi mình anh sống sót nhưng một viên đạn đã chọc vỡ xương sườn và chui sâu vào nằm gọn trong quả thận phải của anh. Vợ chưa kịp biết tin, điều trị chưa lành, anh đã được lệnh xuống tàu Na Uy ở cảng Qui Nhơn để ra Bắc tập kết, không kịp báo tin, cũng không hề biết chị Dương đã mang thai đứa con thứ hai.
Vết thương không được chữa trị kịp thời đầy đủ bộc phát nguy kịch. Ra Bắc, Mai Văn Lanh được đưa vào Quân y viện 108 cắt bỏ quả thận đã bị thối. Sau một thời gian dưỡng thương anh được phân về công tác tại Tỉnh đội tỉnh Hà Tĩnh.
Thời hạn thống nhất đã không diễn ra sau hai năm như Hiệp định Genève quy định mà cứ kéo dài ra vô định. Nhớ vợ thương con nhưng ngày về
Thành vợ thành chồng nhưng chị Kiến đã không còn khả năng sinh nở. Tháng 7/1963, tình cờ thấy một đứa bé trai mới chừng nửa tháng tuổi bị bỏ rơi trong một cái làn treo cạnh chợ, chị đã nhận lấy đem về nuôi, thỏa mãn phần nào khao khát làm mẹ. Lấy họ Mai, anh chị đặt cho đứa bé cái tên Mai Văn Thanh. Hàng tháng, 15 đồng trong khoản lương eo hẹp của cặp vợ chồng bộ đội đã phải trích ra để bé Mai Văn Thanh có chỗ gửi bú nhờ... Sang năm sau, năm 1964, Thượng úy Mai Văn Lanh chuyển ngành, trở thành cán bộ của Lâm trường Hương Sơn, Hà Tĩnh. Chị Kiến cũng rời cơ quan quân đội, theo chồng lên Hương Sơn tiếp tục vai trò một cô bảo mẫu nhà trẻ ở lâm trường.
Đã có gia đình mới, nhưng hình bóng vợ con ở phương trời cũ vẫn đau đáu trong lòng Mai Văn Lanh. Ngay sau giải phóng, ông đã nhiều lần quay lại Chợ Cát dò hỏi tìm vợ, tìm con. Chiến tranh, loạn lạc, làng xóm thay đổi, người người phiêu bạt đi tứ xứ, hơn hai chục năm cũng là một khoảng thời gian quá dài nên không ai biết tin tức gì để có thể trả lời ông.
Đoán rằng vợ con có thể đã hồi hương về Quảng Ngãi nhưng không biết ở xã nào, huyện nào nên cuộc kiếm tìm của ông Lanh ngày càng vô vọng. Trở về Huế, cha mẹ và những người anh chị em ruột mà ông xa cách quá lâu cũng chẳng còn ai. Những người cháu con các anh chị em của ông thì đến cả ông, là chú bác ruột, họ cũng mới gặp lần đầu, trách chi chuyện tung tích bà thím với người em họ chưa một lần nghe nói tới. Thế là hết, sau nhiều chuyến kiếm tìm không manh mối, ông Lanh đành quay trở lại Lâm trường Hương Sơn, xót xa gói ghém kỷ niệm ly tán vào cõi lòng riêng. Năm 1980, ông nghỉ hưu, những mất mát tình riêng tưởng đã thành quá vãng!
Mai Văn Thanh lớn lên và được học hành đến nơi đến chốn. Mùa hè hoặc những khi rỗi rãi, Thanh lại kéo bạn bè về giúp bố mẹ dọn lau lách, khai hoang rừng rú quanh khu tập thể, tạo thêm mảnh vườn cho bố mẹ đánh liếp trồng rau, trồng cây ăn quả. Học giỏi, anh thi đậu vào trường y, trở thành một bác sĩ. Ban đầu anh công tác tại Bệnh viện Bạch Mai, sau chuyển sang làm công tác y tế tại sân bay Nội Bài, Hà Nội cho đến bây giờ.
Góp cùng một người bạn đồng hương thân thiết, anh mua được một mảnh đất 7 mét mặt tiền ở một vùng sắp lên phố chưa có tên đường ở huyện Thanh Trì (nay thuộc quận Hoàng Mai), mỗi người một nửa cất nhà và lập gia đình. Hơn 10 năm trước, bạn của Thanh hồi hương. Họ thỏa thuận đổi đất cho nhau. Người bạn tiếp quản ngôi nhà, mảnh vườn của gia đình anh ở Hương Sơn, còn Thanh đưa bố mẹ nuôi ra Hà Nội dựng nhà trên nửa phần đất của người bạn để lại, chung vách với nhà anh. Cuộc sống của hai ông bà cụ hưu trí cứ thế lặng lẽ trôi đi, cho đến một ngày...--PageBreak--
Khi Mai Văn Lanh xuống tàu đi tập kết, đứa con trai Mai Đình Cư mới hoài thai trong bụng vợ anh được 7 tháng. Vắng chồng, một nách hai con không sống nổi nơi đất khách, chị Dương ôm con về Quảng Ngãi. Chờ đợi mãi đã hóa thành tuyệt vọng, lại liên tục bị chính quyền chế độ cũ o ép vì có chồng đi tập kết, chị đành gạt nước mắt đi bước nữa với ông Đỗ Kinh, cải họ cho 2 đứa con riêng sang họ Đỗ với mong ước duy nhất là tìm sự bình an cho chúng.
Ông Đỗ Kinh là một người tốt bụng, nhưng thực tế của cuộc sống con riêng con chung với người cha dượng khó tính cũng không dễ dàng giúp hai chị em Bính, Cư tìm được sự bình an. Thừa hưởng sẵn máu phiêu bạt của người cha, 13 tuổi Đỗ Đình Cư đã rời nhà lang bạt kỳ hồ, đến làm thuê và học nghề lái xe, sửa máy cho một người chủ tốt bụng ở Đơn Dương, Lâm Đồng.
Cuối năm 1974, trong một lần theo chủ xuống làm ăn tại Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, Cư đã gặp và đem lòng yêu chị Nguyễn Thị Ngà. Vô gia cư, gia tài của anh chỉ có mỗi hai bộ đồ thay đổi. Nhưng với cô gái bán đậu hũ, điều đó không quan trọng bằng tình cảm và sự chân thật của anh. Bất chấp sự phản đối của cha mẹ, năm 1975, chị Ngà vẫn quyết định chung sống với anh, thậm chí không cần đến lễ cưới. Lần lượt họ có với nhau 4 mặt con, đứa lớn sinh năm 1975, đứa nhỏ nhất sinh năm 1982. Sau 30 năm chọn đất Nhơn Sơn làm nơi lập nghiệp, trải qua cơ man những nhọc nhằn khốn khó, từ gánh đậu hũ của chị và hai bàn tay trắng nhưng chịu thương chịu khó của anh, bây giờ họ đã trở nên khá giả. Anh Cư đã trở thành ông chủ của một hợp tác xã cơ giới, có trong tay dăm chiếc cả xe ben lẫn xe xúc chuyên chở đất thuê.
Năm 1977, trong một lần về thăm mẹ và chị ở Quảng Ngãi, lần đầu tiên anh Cư biết tin tức của người cha ruột. Giấy báo tử ghi: liệt sĩ Mai Văn Lanh hy sinh tại chiến trường Trung Bộ ngày 27/7/1954. Không một chút kỷ niệm về cha, nhưng anh Cư vẫn quyết định làm thủ tục cải lại họ Mai như cũ, đồng thời xin phép mẹ cho anh rước bằng Tổ quốc ghi công về Ninh Thuận để khói hương giỗ chạp cho trọn đạo.
Cứ đến ngày 27/7, vợ chồng anh lại làm mâm cơm giỗ cha, mời một vài người thân đến dự. Biết chuyện, một cán bộ xã là ông Tư Lự, cha nuôi của Cư đã báo cáo lên chính quyền địa phương để rước tên liệt sĩ Mai Văn Lanh vào Nghĩa trang liệt sĩ xã Nhơn Sơn. Không hài cốt, cái tên Mai Văn Lanh đã được khắc lên mộ chí cắm trên một ngôi mộ giả đắp trong nghĩa trang, hàng chục năm ròng vẫn được vợ chồng Mai Đình Cư hương khói.
Chị Ngà có ông chú ruột tên Nguyễn Văn Tý cưới vợ là một cô gái Huế. Ông Tý đi lính chế độ cũ và bị chết trận, vợ ông đưa con về quê sinh sống. Cuối năm 1996, anh Nguyễn Văn Hiệp, con trai ông Tý có về Ninh Thuận thăm viếng bà con bên nội. Tình cờ trong câu chuyện, chị Ngà có kể chuyện cha chồng mình cũng gốc gác ở Huế, có người em ruột là ông Mai Văn Xuyến trước năm 1954 bán ruốc ở chợ Đông Ba, nhờ anh Hiệp khi rảnh rỗi hỏi dò giúp, may ra có chút tin tức để những đứa con chị có chút thông tin phía ông nội chúng để còn tưởng nhớ.
Nghe mẹ chồng kể thế thì chị nhắc lại thế, thông tin chẳng nhiều nhặn gì hơn. Không ngờ, lòng nhiệt tình của người em họ đã cho kết quả vượt ngoài mong đợi. Từ Huế, anh Hiệp báo vào cho biết, ông chú Mai Văn Xuyến của anh Cư đã mất từ lâu, nhưng liệt sĩ Mai Văn Lanh thì vẫn... còn sống, vẫn giữ liên lạc với những người cháu họ hàng tại Huế. Sung sướng tưởng phát cuồng nhưng chưa dám tin là sự thật, Cư vội vã liên lạc ngay với ông Lanh theo địa chỉ vừa tìm được. Nhận được điện thoại, ông Mai Văn Lanh lập tức theo một người cháu xuôi
Được vợ lay dậy khi đang ngủ vùi sau một ngày làm việc cật lực, Mai Đình Cư đã đứng sững người. Sau một phút thời gian đông cứng, hai cha con lao vào ôm chầm lấy nhau khóc như mưa như gió. Không nghi ngờ gì nữa, thằng con út của anh với ông cụ hom hem trước mặt giống nhau như tạc, nét cách biệt chỉ là những vết nhăn của năm tháng đầy những biến cố nổi chìm.
Vào giây phút trọng đại ấy, chỉ có bản tính cẩn trọng đến mức đa nghi của người phụ nữ là còn đủ sức để tỏ ra tỉnh táo. Chị Ngà thưa: “Mời bác ở lại đây chơi để vợ chồng con mời mẹ chồng vào gặp mặt. Nếu bà ấy nhận bác là chồng thì bác là cha của tụi con...”. Hai hôm sau, bà Vi Thị Dương đã có mặt tại Đắc Nhơn. Chính ông Đỗ Kinh là người hối thúc nhiều nhất, đánh tan mọi e dè vốn dĩ của đàn bà. Ông bảo: “Bà phải vào gặp ông ấy ngay, đừng để người ta bảo tôi là người đàn ông hẹp lượng!”. Câu đầu tiên của bà Dương sau 43 năm bằn bặt là: “Thì cha bây đó chứ còn ai khác nữa!”. Một lần nữa, một đợt sóng nước mắt lại vỡ òa...
Câu chuyện chia ly xót xa đã khép lại trong một kết thúc có hậu. Anh Cư đã đưa cha ra Quảng Ngãi thăm ngôi nhà của mẹ, thăm cô con gái và gia đình sau của vợ ông. Những năm sau đó, vợ chồng anh Cư chị Ngà cũng thường xuyên ra Hà Nội thăm cha. Trong những năm học Đại học Tài chính Kế toán ở Hà Nội, cô Mai Thị Bích Thảo, con gái thứ hai của họ cũng thường xuyên đến thăm, chăm sóc ông nội và bà nội kế.
Cách đây 10 tháng, bà Kiến mất vì đau yếu tuổi già. Lo xong mồ yên mả đẹp cho bà, gần 2 tháng trước ông Mai Văn Lanh quyết định giao hết nhà cửa ở Hà Nội cho người con nuôi Mai Văn Thanh, vào Ninh Thuận đoàn viên an hưởng tuổi già với anh Cư, chị Ngà và một bầy cháu nội, chắt nội gần 20 đứa lúc nào cũng líu ra líu ríu. Ra đi trong nỗi nhớ và sự cô đơn, sau hơn nửa thế kỷ, ông lão 83 tuổi đã quay về trong sum vầy hạnh phúc.
Vẫn còn dùng dằng, nhưng có lẽ không bao lâu nữa, bà Vi Thị Dương cũng sẽ từ Quảng Ngãi vào Ninh Thuận để cùng ông sống nốt nghĩa tình già bên cháu chắt quây quần. Ông Đỗ Kinh, chồng kế của bà cũng đã mất cách đây 6 năm. Vả chăng, lúc còn sống, chẳng phải chính ông cũng đã từng bày tỏ niềm vui và mong ước để cho người vợ thân yêu được trùng phùng cùng người chồng xa cách và đoàn cháu con đông đúc đó hay sao
