Nghệ nhân Trần Văn Sen: Luôn tin ở tương lai

Thứ Sáu, 28/04/2006, 08:43
Đến khi ông giành được nụ cười theo đúng nghĩa thì cũng là lúc ông bước vào tuổi 70. Ở vào tuổi ấy, người ta thường lui về hậu trường để tận hưởng sự an lạc của tuổi già. Nhưng với nghệ nhân Trần Văn Sen, Tổng Giám đốc Công ty Sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu Hương Sen - tỉnh Thái Bình, dường như đó chỉ là thời điểm kết thúc một bước ngoặt của cuộc đời.

Quê ông là làng Mẹo, một làng nhỏ phía Nam huyện Hưng Hà (Thái Bình), bây giờ ngôi làng ấy đã được đổi tên là Phương La. Làng Mẹo nổi tiếng không chỉ ở Thái Bình mà nhiều người ở các địa phương khác, thậm chí là khách nước ngoài đều biết. Người ta biết đến làng Mẹo bởi nơi đây là một làng nghề truyền thống lâu đời. Sử sách còn ghi: Nghề dệt ở làng Mẹo có từ thời nhà Trần và chính thân phụ Thái sư Trần Thủ Độ là người đầu tiên có công khai phá, dựng ấp, dựng làng và dạy nghề cho các cư dân trong làng.

Ngay từ năm 1937, những lô hàng đầu tiên của làng đã được xuất khẩu đến thị trường Nhật Bản. Và cũng từ đấy, các thương gia người Nhật đã để mắt tới làng Mẹo. Người có công trong việc thiết lập quan hệ làm ăn buôn bán đó là cụ Trần Văn Tuân, ông nội của nghệ nhân Trần Văn Sen bây giờ. Song rất tiếc, việc làm ăn, buôn bán đang tiến triển thì Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, đẩy gia đình ông vào tình thế khó khăn.

Đại chiến thế giới thứ 2 kết thúc cũng chính là lúc cuộc Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam thành công, nước nhà được độc lập, song hậu quả của chế độ quân phiệt Nhật khiến Thái Bình quê hương ông lại chìm trong nạn đói khủng khiếp, hàng vạn người đã chết hoặc phải bỏ làng ra đi. Nhưng "mất gì thì mất chứ không thể để mất nghề và làng nghề", các thành viên trong gia đình ông đêm ngày nung nấu về những định hướng phát triển của mình.

Khi đó, ông Trần Văn Sen mới tròn 10 tuổi. Ở vào độ tuổi ấy, có ai ngờ rằng ông đã là một thành viên tích cực của gia đình trong việc nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm như vải, khăn mặt, màn… phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp. Những năm sau đó, ông còn xung phong tham gia các đoàn quân hỏa tuyến, gánh đạn vượt đèo phục vụ cho các chiến dịch.

Năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, nghề dệt ở làng Mẹo quê ông được phục hồi. Hơn lúc nào hết, ông nhận ra rằng muốn duy trì và giữ nghề truyền thống cho quê hương cần phải bỏ tiền đi học hỏi kinh nghiệm từ các nơi khác như Vạn Phúc (Hà Tây); nghề dệt lụa ở Nam Định…Năm 1968, cùng với một vài thành viên trong họ tộc, ông thành lập tổ sản xuất để cho ra lò những sản phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày của người dân.

Sự ra đời của Tổ sản xuất Tân Phương báo hiệu những phương thức làm ăn mới, những nhân tố mới trên mảnh đất dệt truyền thống Phương La. Thế nhưng thật oái oăm, ông Sen - một người bỏ tiền nhà ra để mở mang công nghệ, thị trường mới về cho làng thì lại gặp "hạn". Nhà cửa bị khám, thậm chí ông Sen còn bị một số cán bộ đương chức, hưu trí và người dân hiểu lầm, phát đơn kiện vì "làm ăn bóc lột tinh vi, móc ngoặc, có mầm mống tư bản".

Nhận được đơn, các cơ quan chức năng về kiểm tra, họ còn đến cả những nơi mà Tân Phương có mối quan hệ làm ăn để xác minh… Sau một thời gian làm việc, cơ quan chức năng kết luận: "Tổ sản xuất Tân Phương do ông Sen phụ trách SXKD đúng luật, hóa đơn chứng từ rõ ràng, không có dấu hiệu tham ô lãng phí, và không có sự bóc lột sức lao động…".

Bây giờ đã bước vào cái tuổi "xưa nay hiếm", nhưng ông Sen mỗi lần nhớ lại ngày ấy vẫn còn nhớ như in lời nhận xét của đồng chí Nguyễn An Ích - Phó Chủ tịch huyện Hưng Hà lúc đó. Chả là, sau khi nghe Đoàn kiểm tra kết luận, đồng chí đã nói: "Nếu ngày xưa không có Lê Quý Đôn nghiên cứu chọn lọc ra một bộ giống lúa thì làm sao dân ta có những giống lúa tốt nhất… Tương tự, nếu không có những người nghiên cứu công nghệ mới, mặt hàng mới, cách làm ăn mới như ông Sen thì làm sao nghề dệt của ta phát triển được". Đó là một nhận xét vừa mang tính kế thừa và vừa mang tính cách mạng rất cao. --PageBreak--

Sau lần ấy, từ làng nghề này, vải lon kẻ, vải si, pho và thổ cẩm in hoa cao cấp của Thái Bình hối hả lên đường xuất ngoại, nối Phương La với bạn bè gần xa. Từ mô hình Tổ sản xuất Tân Phương, Phương La và nhiều làng quê trong tỉnh Thái Bình đã phát triển hàng loạt tổ sản xuất thủ công nghiệp. Riêng Phương La có tới trên 40 tổ và đây là nền tảng ban đầu của những công ty, xí nghiệp hùng mạnh ngày nay. Sự phát triển của các cơ sở sản xuất tư nhân ngày ấy và bây giờ đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước là đúng đắn, hợp lòng dân. 

Trong câu chuyện với chúng tôi, ông hồi tưởng, sau những bước đi đầu tiên và những kết quả đạt được vào những năm cuối thập kỷ 90, nhiều đồng chí lãnh đạo Trung ương, lãnh đạo tỉnh đã về thăm, động viên gia đình chuyển lên thị trấn Hưng Hà để mở rộng sản xuất. Trong lúc đang cân nhắc thì ông lại vấp phải sự ngăn cản quyết liệt của họ hàng, dòng tộc với lý do "đưa nghề dệt ra khỏi lũy tre xanh làng mình là mất nghề". Cuối cùng, ông xin với cha mẹ, họ hàng để vợ ở lại làng, chỉ có mấy bố con ông đi. Thương chồng, hiểu ý chí và tình cảm lớn lao của chồng, người vợ hiền thảo của ông đã nén sầu làm vui, ở lại làng thay chồng con làm bổn phận với họ tộc, gia đình.

Thấy quyết định của ông là đúng, ngay sau đó, dòng tộc, họ hàng, anh em đã dốc hầu bao chắt chiu bao năm hùn giúp ông hơn 100 cây vàng để mở mang xí nghiệp. Ông nói ơn này ông khắc cốt ghi xương. Lên thị trấn Hưng Hà, ông quyết định thành lập Xí nghiệp Dệt nhuộm in hoa Hương Sen.

Đây là xí nghiệp tư nhân đầu tiên của tỉnh Thái Bình. Xí nghiệp được tiếp nhận một mặt bằng hoang tàn đổ nát của Công ty Thương nghiệp huyện đã bàn giao lại cho ba đơn vị là trường dạy nghề, năng khiếu và cơ sở làm cao su. Trường năng khiếu thì đồng ý chuyển còn trường dạy nghề và cơ sở cao su dứt khoát không chuyển. Đúng vào lúc đó, do nhận thức chưa đầy đủ về chủ trương của chính quyền địa phương nên một số người quanh vùng đã tìm cách quấy phá, ngăn trở hoạt động của Xí nghiệp. Những việc làm trên khiến ông nhiều đêm thức trắng để suy nghĩ và tìm cách giải quyết. Nhưng rồi theo thời gian, bằng cái tâm, cái đức và tình cảm chân thật, ông đã thuyết phục được họ giao lại mặt bằng cho Xí nghiệp xây dựng nhà xưởng.

Xí nghiệp bắt đầu đi vào sản xuất, nhiều mặt hàng dệt mới đã ra đời. Song những năm đó, vì nằm trong diện kinh tế tư nhân nên việc vay ngân hàng rất khó khăn hoặc nếu được vay thì phải chấp nhận một mức lãi suất cao gấp nhiều lần các đơn vị quốc doanh. Do vậy, lãi được đồng nào, Xí nghiệp của ông trả lãi hết ngân hàng, có khi còn lỗ.

Chưa hết, do Xí nghiệp mới thành lập, mối quan hệ thị trường còn khó nên thời kỳ này đơn vị của ông chưa cân đối được đầu vào và đầu ra. Hàng đầy kho chưa bán kịp mà vốn lưu động thì hết, chưa có tiền mua nguyên liệu và trả lương công nhân. Ngân hàng không cho vay tiếp, buộc ông phải làm đơn đề nghị. Tỉnh cử hẳn một Phó Giám đốc ngân hàng về kiểm tra nhưng vẫn không cho vay.

Ông lại lóc cóc lên tỉnh đề nghị tiếp. Lần này, đích thân Giám đốc Ngân hàng Nhà nước của tỉnh lúc đó xuống kiểm tra. Sau một ngày làm việc, ông Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tỉnh đã kết luận: "Xí nghiệp sản xuất kinh doanh giỏi, mọi chế độ chính sách đảm bảo, các mối quan hệ rõ ràng. Tôi quyết định cho Xí nghiệp vay mới với lãi suất ưu đãi". Đó là một tiền lệ chưa từng có đối với xí nghiệp tư nhân bấy giờ. Ông Sen không cầm được nước mắt - những giọt nước mắt trong nghẹn ngào và niềm tin vào một tương lai tốt đẹp.

(Còn nữa)

Lưu Vinh - Ngọc Tước
.
.
.