Một gia đình mẫu mực, tài hoa
Có lẽ với ông, được nói về cha mình, được nhớ về cha với những kỷ niệm êm đềm, dịu ngọt vẫn là điều ông say mê vô cùng, là những giây phút ông cảm thấy lòng thanh thản nhất, giúp ông cân bằng lại mọi trạng thái căng thẳng sau những công trình nghiên cứu dài hơi về "cổ nhân học"...
PGS.TS Nguyễn Lân Cường xúc động kể: "Cụ Nguyễn Lân" hồi nhỏ vất vả vô cùng, nhà nghèo đến độ không có ruộng đất gì trong một miền bạc điền, lại thường xuyên bị hạn hán, bố mẹ mất sớm, bốn anh em nheo nhóc, ông nội tôi phải bỏ làng đi tha phương cầu thực. Thực ra bà nội tôi sinh được 17 người con và ba tôi là con út, anh chị của ba tôi đều "hữu sinh vô dưỡng".
Do bà nội sinh đẻ nhiều, sức khỏe bà giảm sút trầm trọng, răng rụng hết khi mới ngoài 40 tuổi và bà đã mất năm 49 tuổi sau khi bị ho lao, suy kiệt. Nhà nghèo, lại khổ cực nên ba tôi sức khỏe cũng yếu ớt vô cùng, đến mức khi đi học mà có cái xe tải đi ầm ầm trên đường là cụ phải cắn vào móng tay cái cho khỏi ngã. Ấy vậy mà, với ý chí phi thường, cụ đã rèn luyện sức khoẻ suốt cuộc đời.
Ngay cả khi ông lâm bệnh nặng, bị ung thư đại tràng, ba tôi vẫn lạc quan, vẫn quan tâm đến mọi người. Nhận được thư học sinh cũ, ba tôi cũng gượng dậy, đôi bàn tay gầy gò run run vẫn cố gắng viết thư trả lời. Nằm trên giường bệnh, ba còn uất ức điện thoại cho một tờ báo khi nghe thấy thông tin có cô giáo bắt học sinh liếm ghế. Ba tôi là vậy, lúc nào ông cũng quên mình đi để nghĩ đến việc chung, nghĩ đến mọi người. Sau bao gian truân của cuộc đời, gần một thế kỷ nuôi dưỡng đàn con và đóng góp cho xã hội biết bao công sức, viết cho đời hàng vạn trang sách, ông vẫn đau đáu trong lòng như còn nhiều việc chưa trả nợ được".
Kể đến đây, PGS.TS Nguyễn Lân Cường nghẹn ngào. Ba ông - Giáo sư Nguyễn Lân, người thầy giáo nhân dân của biết bao thế hệ học trò Việt Nam đã về nơi vĩnh hằng được 7 năm, nhưng làm sao ông có thể nguôi nhớ về những năm tháng ba ông lăn lộn, đạp xe hết Thái Nguyên, Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang (lúc đó Giáo sư Nguyễn Lân là Giám đốc Giáo dục Liên khu Việt Bắc - PV) để dạy học và gây dựng trường sở thời kháng chiến. Ba ông cứ cọc cạch đạp xe hàng trăm cây số, đến từng tỉnh, từng trường để động viên các thầy giáo, cô giáo và học sinh. Rồi cụ còn tham gia dạy các lớp bình dân học vụ, thăm hỏi bộ đội...
"Ba tôi vẫn thường dạy tám anh chị em chúng tôi là không được đánh con và ông đã gương mẫu thực hiện điều này trong suốt cuộc đời mình. Ông giảng giải cho tôi, đánh con, mạt sát con là thể hiện sự bất lực của mình và làm cho con cái không phục, phải khuyên nhủ cho chúng thấy được điều hay lẽ phải. Lời khuyên ấy thật đơn giản, nhưng sao có lúc thấy khó vậy?" - Đến bây giờ PGS.TS Nguyễn Lân Cường vẫn thấm thía những lời ba dạy, những câu chuyện mà ba ông tâm sự với ông bao giờ cũng ẩn chứa những thông điệp sâu sắc.
|
|
Giáo sư Nguyễn Lân và gia đình người con thứ tư - PGS.TS Nguyễn Lân Cường. |
Giáo sư Nguyễn Lân có lần từng nói với ông rằng, con luôn luôn phải nhìn lên tường xem con đứng ở chỗ nào, phía trên con còn nhiều người tài lắm. Con ra đường nếu gặp người thợ mộc, con phải chào họ là thầy, con có biết cưa, đục, bào, đâu, nên họ phải là thầy con về nghề mộc? Ba tôi luôn tâm niệm, cái khó nhất trong cách đối xử ở đời là phải biết mình đang đứng ở vị trí nào.
Rồi có lần, trong một bữa cơm, Giáo sư Nguyễn Lân thủng thẳng nói: "Cường ơi, ai đó họ nói xấu con thì sẽ xảy ra ba điều, thứ nhất, nếu họ nói đúng thì con phải sửa, thứ hai là sự hiểu lầm thì con phải bỏ qua cho họ, còn thứ ba nếu họ nói xấu thật thì con phải đến bắt tay ôm hôn họ. Không người nào giỏi hơn con mà đi nói xấu con cả, họ phải kém con thì mới nói xấu con, vậy là họ thừa nhận con khá hơn họ rồi".
Kể lại cho tôi nghe chuyện này, PGS.TS Nguyễn Lân Cường tâm sự rất thật: "Những điều đó càng nghĩ tôi càng thấy thấm thía, nhưng tôi vẫn chưa làm được điều thứ ba cụ dặn. Ba tôi luôn là vậy nên lúc nào cụ cũng thấy lòng thanh thản. Cả đời cụ sống thanh bạch, giản dị. Hồi đi kháng chiến chống Pháp, Nhà nước giao cho ba tôi một số tiền lớn để về địa phương chi cho các trường xây trường lớp. Năm 1951, khi nhận nhiệm vụ mới, cụ đã hoàn lại toàn bộ số tiền thừa cùng các chứng từ chi tiêu không thiếu một xu. Sau này, ba mẹ tôi sống trong một căn hộ tập thể ở Kim Liên rộng gần 20m2, nhưng ba tôi chẳng thế mà buồn phiền. Học trò của ba tôi đến chơi thấy thầy sống thanh đạm quá cứ xót xa...".
Có lẽ đến giờ ở Việt Nam chỉ duy nhất có một đại gia đình như gia đình Giáo sư Nguyễn Lân cả tám người con đều dạy đại học, đều trở thành những nhà khoa học xuất sắc. Người con trai cả của ông là GS.TS Nguyễn Lân Tuất, nguyên Chủ nhiệm Khoa Lý luận và sáng tác của Nhạc viện Nôvôximbiếc - Nga, Phó Chủ tịch Hội người Việt ở Nga, người Việt đầu tiên được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Công huân Nga (năm 2001).
Người con thứ hai là nữ Tiến sĩ Nguyễn Tề Chỉnh (bà đã qua đời), nguyên là giảng viên trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Người con thứ ba là GS.TS Nguyễn Lân Dũng, nguyên Giám đốc Trung tâm vi sinh vật học ứng dụng, đại biểu Quốc hội khóa X, XI, XII. Người con thứ tư là PGS.TS Nguyễn Lân Cường, Phó Tổng thư ký Hội khảo cổ học Việt Nam, giảng viên ĐH Quốc gia Hà Nội.
Người con thứ năm là chuyên gia Nguyễn Lân Hùng, Tổng Thư kí các hội sinh học Việt Nam, giảng viên Khoa Sinh học, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội. Người con thứ sáu là PGS.TS Nguyễn Lân Tráng, giảng viên ĐH Bách khoa Hà Nội. Người con thứ bảy là GS.TS Nguyễn Lân Việt, Viện trưởng Viện Tim mạch Việt Nam, Chủ nhiệm Bộ môn Tim mạch - Đại học Y Hà Nội, ông nguyên là Hiệu trưởng Trường ĐH Y Hà Nội. Người con út là PGS.TS Nguyễn Lân Trung, Phó Hiệu trưởng ĐH Ngoại ngữ, ĐH Quốc gia Hà Nội, Phó Chủ tịch Liên đoàn Bóng đá Việt Nam.
PGS.TS Nguyễn Lân Cường tâm sự với tôi rằng, mọi con đường là do các con tự lựa chọn, ông tôn trọng quyết định của các con. Thế nhưng, sự thành đạt đó thứ nhất là do ông và các anh em của mình đã noi gương cha mình mà phấn đấu, nỗ lực vượt bậc, vượt lên thành những nhà khoa học thành đạt mà đất nước cần...
|
Giáo sư Nguyễn Lân đã cống hiến trọn tâm và lực suốt đời mình cho nền giáo dục Việt Nam. Khi đất nước còn bị thực dân Pháp cai trị, ông đã giáo dục, dạy dỗ và truyền tinh thần yêu nước vào một bộ phận tầng lớp tiểu tư sản để rồi sau đó họ là những người phục vụ đất nước, cách mạng Việt Nam. Khi giữ chức vụ Giám đốc Giáo dục Liên khu 10, ông đã bổ dụng các Trưởng ty Giáo dục (nay là Giám đốc các Sở Giáo dục và Đào tạo) và cùng họ lo toan để đưa nền giáo dục dần vào nền nếp. Khi giảng dạy ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ông đã đào tạo được một đội ngũ giáo viên tâm lý - giáo dục giỏi cho các viện và các trường đại học, phổ thông mới thành lập. Cũng trong thời kỳ này, ông đã biên soạn nhiều cuốn giáo trình về khoa học giáo dục có giá trị như: Ngữ pháp Việt Nam (1956), Lịch sử giáo dục thế giới (1958), Người thầy giáo XHCN (1960), Giảng dạy trên lớp (1961). Đến khi nghỉ hưu, ông cũng dành trọn thời gian cho việc lưu trữ tiếng Việt thông qua các cuốn từ điển. Ông được trao Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ cho "Cụm công trình về giáo dục từ điển Việt Nam". |
