Mánh khoé “làm tiền” của các trung tâm tư vấn du học
Với mô hình hoạt động theo doanh nghiệp, các cơ sở trên chỉ chịu giám sát của Sở hoặc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, những nơi cấp phép hoạt động. Tuy nhiên, là những cơ quan chuyên ngành về kinh tế những nhà quản lý này không thể nắm bắt rõ hoạt động của các trung tâm trong lĩnh vực giáo dục.
Cách đây chưa lâu, có ba phụ huynh: Đinh Nguyễn Ngọc Trân, Thái Văn Minh và Châu Ngọc Đăng ở Tp.HCM tới văn phòng Khiếu nại của người tiêu dùng phía Nam và Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an khiếu nại về việc Công ty Đại Thành Danh có trụ sở tại 204 đường Nguyễn Hữu Cảnh và 29 đường số 1, phường Linh Tây, quận Thủ Đức không thực hiện đúng hợp đồng trong việc đưa con em họ đi du học. Khi sự việc bị phát hiện, các phụ huynh nói trên đã đến đòi số tiền nộp tổng cộng hơn 500 triệu đồng nhưng giám đốc công ty cũng như người đại diện không ra trả, thậm chí còn không một lời giải thích kèm theo.Đó chỉ là một trong những ví dụ điển hình về tình hình phức tạp trong du học hiện nay.
Có lẽ những người quan tâm tới du học vẫn còn nhớ vụ bê bối của một công ty có tên tuổi trong làng môi giới du học - Công ty LH ở Hà Nội. Công ty này, dẫu về sau đã khắc phục hậu quả do chịu áp lực quá mạnh từ phía phụ huynh nhưng những việc làm trước đó của LH đã khiến cho tất cả giới du học sinh cũng như nhiều phụ huynh bất bình.
Theo quảng cáo, du học Nhật Bản qua đường của trung tâm, học sinh gần như không phải lo bất cứ một điều kiện gì kể cả ngoại ngữ, chứng minh tài chính... Hợp đồng, thủ tục lại nhanh, gọn. Chỉ trong một thời gian ngắn học sinh có thể cất cánh đến "đất thánh" ước mơ. Thế nhưng khi “cá đã cắn câu”, tức là phụ huynh đã đăng ký, ký hợp đồng bước đầu với trung tâm, nộp tiền đặt cọc thì sự thật ngọt ngào ấy bắt đầu thay đổi, thậm chí quay ngoắt 180o. Nghệ thuật làm tiền bắt đầu.
Theo quảng cáo thì du học không cần biết ngoại ngữ, không phải chứng minh tài chính. Song viện lý do vì gặp rắc rối từ khâu hoàn tất thủ tục hoặc có trở ngại từ phía bên kia (đối tác), trung tâm nghĩ ra một hợp đồng khác, được gọi là hợp đồng bổ sung, với những nội dung, điều khoản trái ngược hẳn so với hợp đồng chính thức ban đầu. Cái gọi là hợp đồng bổ sung này mới là hợp đồng chính vì nó thực sự mang lại lợi ích về kinh tế cho trung tâm, còn trách nhiệm ràng buộc hoàn toàn không có. Chẳng hạn học sinh sẽ phải nộp tiền để học ngoại ngữ do chính giáo viên của trung tâm dạy. Hoặc để chứng minh thu nhập với trường đại học nước ngoài, trung tâm làm giấy tờ giả. Trong trường hợp bị phát giác thì phía gia đình học sinh chịu mất trắng hoàn toàn tiền đặt cọc và không được du học do thực hiện sai những cam kết trong hợp đồng.
Có gia đình chi phí số tiền lên đến 500 triệu đồng nhưng cuối cùng con em họ vẫn bị đuổi về nước vì chuyện này. Hoặc như trường hợp của một học sinh tên Tuyên. Em kể ngày 7/8/2003, gia đình em đã ký hợp đồng tham gia học tiếng Nhật tại trung tâm của LH và sẽ lên đường đến trường TOPA học vào tháng 4/2004. Nhưng chỉ hai tháng sau, ngày 20/10/2003, LH lại ký một hợp đồng mới với nội dung hoàn toàn thay đổi: ngày lên đường du học phải lùi lại tới tháng 10/2004 và thay vì nhập trường TOPA như đã nói, Tuyên vào học tại Trường đại học Takushouku. Đến tháng 7/2004, LH lại thuyết phục gia đình Tuyên ký hợp đồng chuyển Tuyên sang một trường Nhật ngữ ở
Đối với một số trường hợp khác, LH còn thực hiện những hành vi “làm tiền” trắng trợn hơn. Sau khi làm hồ sơ và dạy ngoại ngữ cho một số học sinh, nhưng do không có khả năng đưa các em đi du học, LH đã đưa ra đề nghị để du học được, gia đình những học sinh này phải có giấy chứng minh thu nhập nộp cho bên đối tác, mặc dù lúc đầu theo thông báo hoàn toàn không có bắt buộc trên. Vì không đáp ứng được yêu cầu đó, có gia đình đã rút lại hồ sơ và đòi tiền đặt cọc thì LH chỉ đồng ý hoàn lại 50% số tiền. Số còn lại LH giải thích đã dùng làm chi phí để lo thủ tục trước đó cho con họ.
Với những trường hợp chờ tới giờ cất cánh, LH có kiểu làm tiền khác. Chẳng hạn để cầm được tấm hộ chiếu trong tay, học sinh phải “xùy” ra một khoản tiền gọi là phát sinh mà chỉ LH mới hiểu nổi. Lợi dụng tâm lý của nhiều phụ huynh muốn cho con nhanh gọn theo kiểu “sắm được con trâu, sắm nốt cái cày” trong việc du học, bất kể khâu nào LH cũng phát sinh: làm visa, mua vé máy bay... Theo lời kể của một học sinh tên Kiên, gia đình em đã phải chi thêm 1.000 USD ngoài hợp đồng cho công ty để làm visa. Thế nhưng, khi nhận visa thời hạn lại chỉ có 6 tháng và cuối cùng em bị đuổi về nước sớm hơn dự định.
Để có thể hoạt động không theo một nguyên tắc nào như vậy, phải nhìn nhận rằng công tác quản lý hiện nay của chúng ta quá lỏng lẻo, thậm chí bị buông lơi. Theo Thượng tá Nguyễn Văn Mỹ, Trưởng phòng An ninh Văn hóa - Tư tưởng Công an Hà Nội, điển hình và căn bản nhất là các công ty, trung tâm tư vấn du học tại thủ đô nói riêng và cả nước nói chung không chịu sự quản lý của bất kỳ cơ quan Nhà nước nào, kể cả ngành Giáo dục.
Với mô hình hoạt động theo doanh nghiệp, các cơ sở trên chỉ chịu giám sát của Sở hoặc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, những nơi cấp phép hoạt động. Tuy nhiên, là những cơ quan chuyên ngành về kinh tế những nhà quản lý này không thể nắm bắt rõ hoạt động của các trung tâm trong lĩnh vực giáo dục. Hơn nữa, trong giấy phép hoạt động cấp cho những trung tâm du học, những ngành nghề được phép hoạt động quá rộng - tới 20 hạng mục khác nhau nên các trung tâm đã nắm lấy cơ hội để hoành hành mà không ai kiểm soát nổi. Thế nên mới có chuyện nhiều công ty, trung tâm chỉ mang danh tư vấn du học, nhưng thực tế làm hết từ A đến Z: từ tư vấn, đưa học sinh đi du học, dạy ngoại ngữ đến làm visa, mua vé máy bay... Thậm chí có trung tâm còn có tới hai tư cách pháp nhân trong khi theo quy định của Nhà nước đây là việc làm trái pháp luật.
Một nhà quản lý giáo dục sau những vụ bê bối trong du học đã phàn nàn rằng, sau khi ra đời Nghị định 51 của Chính phủ cho phép mọi người Việt Nam đều được phép đi nước ngoài, đồng thời quy định 18 tuổi trở lên được cấp hộ chiếu và đặc biệt là lý do học sinh du học không phải trải qua bất kỳ đợt sát hạch nào về trình độ, kiến thức của ngành Giáo dục thì số học sinh du học tăng vùn vụt.
Hiện nay, số du học sinh theo hình thức tự túc (phần lớn du học hiện nay theo hình thức tự túc), theo nhà giáo dục này cho biết chính ngành chức năng cũng không nắm hết, chỉ biết tại 14 quận, huyện của Thủ đô hiện có 55 công ty tư vấn du học. Còn học sinh du học theo đường Nhà nước hiện có 5.000 học sinh. Do như đã nói chịu sự quản lý trực tiếp của những cơ quan kinh tế nên chẳng có luật nào bắt buộc các trung tâm, công ty hoạt động trong lĩnh vực du học phải thông báo với ngành Giáo dục và đào tạo nội dung, hình thức hoạt động. Ngược lại, ngành Giáo dục muốn giám sát cũng không biết như thế nào và ở đâu. Cũng do luật chưa chặt chẽ như thế mà các cơ quan an ninh trong nhiều vụ lừa đảo du học, rất kỳ công điều tra nhưng cuối cùng đành bó tay vì không có cơ sở để xử lý.
Phòng An ninh Tư tưởng - Văn hóa Công an Hà Nội từng rơi vào trường hợp như vậy. Để rút ra kinh nghiệm cũng như làm tốt hơn công tác quản lý, Thượng tá Nguyễn Văn Mỹ cho rằng kèm theo giấy phép của Sở hoặc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp cho các công ty, trung tâm hoạt động liên quan đến du học, nên có thêm giấy phép “con” của ngành Giáo dục. Có như vậy, đối với các cơ sở tư vấn hoặc trực tiếp đưa học sinh đi du học cũng như du học sinh ở nước ngoài, các cơ quan chức năng mới thâu tóm được; chứ hiện nay, số học sinh du học tự túc, làm gì, ở đâu, các cơ quan quản lý hoàn toàn không nắm được thông tin về họ.
Về phía các vị phụ huynh, do đang ở trong tình trạng hỗn mang như đã nói, trước khi gửi gắm con em lẫn tài sản của mình trong việc du học nên tìm hiểu kỹ về ngôi trường cũng như công ty môi giới. Nếu không sẽ là “gửi trứng cho ác”, đồng thời mất trắng hoàn toàn. Đơn giản và chắc chắn hơn cả là đến thẳng các văn phòng du học trực thuộc Đại sứ quán, sẽ được giải đáp đầy đủ nhất về mọi phương diện
