Lũng Cú mùa thu này
Cái bắt tay thật chặt và ấm, nụ cười rạng rỡ trẻ trung trên gương mặt Bí thư Đảng ủy xã Lũng Cú, Lầu Dúng Páo, dân tộc Mông, 39 tuổi dành cho tôi lần này như thầm trách: "Sau cú điện thoại hò hẹn từ Hà Giang tháng trước bận gì mà bây giờ bác mới lên…". Đã là người của dân, của Đảng, với cương vị cao nhất xã hiện giờ, Lầu Dúng Páo hồn nhiên "thật như đếm" nhưng không kém phần sâu sắc, nhạy cảm tôi đọc được qua ánh mắt lúc nào cũng như cười của anh…
Như một phép thôi miên lạ lùng khiến tôi muôn khám phá, ký thác về Lũng Cú thêm một lần nữa. Giữa bời bời mây trắng, ánh nắng nhẹ màu mật ong bạc hà, phấn ngô lất phất trong thinh không tạo thành vô vàn hạt bụi vàng li ti ngào ngạt, hương thơm của hoa dại, cỏ mật nồng nồng quyến rũ. Chòm xóm của đồng bào Mông, Lô Lô như những tổ chim treo lơ lửng trên vách đá, núi non chót vót miên man, ruộng bậc thang thấp thoáng uốn lượn tựa hồ như nét vỡ vạc, chạm khắc của bàn tay người nghệ nhân tài hoa… Từng mảng, từng mảng thiên nhiên riêng biệt lẫn trong cảnh sắc hoang sơ đang dần ấm lại trong mắt mỗi người. Chính lúc này, tôi hiểu mình đang chạm vào xứ sở của niềm khao khát tinh khôi…
Ký ức của tôi ngày thơ bé, trong veo tuổi học trò những ngày cắp sách tới trường, vào tiết học địa lý, khi lần đầu vẽ bản đồ Tổ quốc. Tôi đã say mê đặt nét bút đầu tiên từ nơi biển Trà Cổ lượn một vòng theo hình chữ S, dáng hình đất nước lúc ấy đã hiện ra và đỉnh Lũng Cú vời vợi cũng hiện hình… Để hôm nay cái điểm cao vời ấy, nói như nhà văn Nguyễn Tuân "Mỏm Lũng Cú tột Bắc" đang trọn vẹn huy hoàng trước mắt tôi với bao xúc động vô bờ…
Khi trưởng thành đã dọc ngang đất nước, ký ức ấy tôi đã dành một phần cho văn chương nghệ thuật, một phần giữ lại cho riêng mình… Tôi nhận ra Lũng Cú không chỉ là chóp nón bài thơ muốn đời, Lũng Cú đích thực là vầng trán kiêu hãnh của Tổ quốc, còn đẫm mồ hôi và sương gió…
Từ trụ sở Ủy ban nhân dân xã, chúng tôi đi bộ qua hồ Lô Lô, men theo chân núi Rồng để lên phần đất thượng cùng của Tổ quốc. Con đường giao thông nông thôn loại B mới được đưa vào sử dụng từ năm trước, với chiều dài 4 cây số nhưng chi phí tới bạc tỷ, trong đó Nhà nước hỗ trợ một phần, số còn lại phát huy nội lực trong dân.
Bây giờ từ Lũng Cú ta thong dong phóng xe hơi lên Séo Lủng, ra cột mốc 17 một cách thuận lợi. Đi cùng chúng tôi có Trung tá Đồn trưởng Đồn Biên phòng Lũng Cú - Nguyễn Ngọc Châu, 40 tuổi, quê anh ở Yên Sơn, Tuyên Quang, gắn bó với vùng biên 10 năm, gia đình anh hiện giờ cư trú tại thị xã Hà Giang, cái thị xã đẹp như bông hoa trên nền thổ cẩm, có dòng sông Lô hiền hòa chảy giữa, là điểm cuối quốc lộ số 2, suốt ngày đêm tiếng xe tải hạng nặng ầm ì lên cửa khẩu quốc gia Thanh Thủy.
Bước chân chắc nịch, Châu khoát một vòng tay tự tin, mắt hướng về phía cánh rừng thông, tống quá sủ dãi dầu nắng gió. Đây là một phần trong 600 ha rừng chỉ tiêu do Bộ Chỉ huy Biên phòng thực hiện tại địa bàn. Trong chương trình phát triển kinh tế - xã hội, riêng chỉ tiêu trồng rừng của xã trong những năm tới lên đến 1.003 ha, chủ yếu là pơmu, cỡ hàng vạn cây. Chắc chắn từ nay đến năm 2010, Lũng Cú có bước phát triển rất xa… Tôi biết các anh còn quản lý 3 xã biên giới gồm Ma Lé, Lũng Táo, Lũng Cú với chiều dài 31km đường biên, riêng Lũng Cú hơn 16km.
Gần trưa chúng tôi đến Séo Lủng, cũng là lúc các em học sinh tan trường, trên những lối mòn về thôn bản các em như những đàn chim non ríu rít rực rỡ sắc màu, hình ảnh này không còn xa lạ với vùng sâu, vùng xa những năm gần đây. Khi sự nghiệp giáo dục đã thành quốc sách, thấm nhuần sâu sắc trong từng người dân…
Séo Lủng nằm trên phần dài của một thẻo đất dốc, xuôi vào địa phận Lũng Cú, với 42 hộ chủ yếu là dân tộc Mông. Phía trái là thung lũng Thèn Ván sâu hút, thăm thẳm ước chừng 50 ha, màu lúa chín vàng, màu xanh của rau, đậu xen kẽ, ngắm nhìn thật thích. Phía phải là đầu nguồn dòng sông Nho Quế như vỡ ra từ hoang mạc…
Tôi nhớ lại những năm tháng chống Mỹ cứu nước đang bước vào thời kỳ ác liệt nhất. Nhà văn Nguyễn Tuân đã rời thủ đô lên với cao nguyên đá. Ông được huyện Đồng Văn chu đáo bố trí người, ngựa tháp tùng ngược Lũng Cú. Lúc này thời tiết đã vào thu, hương vị của trái lê "ăn đủ năm mùi", tình người vùng cao hồn hậu đã ngấm vào ông như một kỷ niệm khó quên. Khi ngồi chót vót trên Séo Lủng, nhà văn của chúng ta mới tỷ mẩn làm sao. Ông rút trong sắc cốt tấm bản đồ Tổ quốc và trịnh trọng treo lên vách đất trong ngôi nhà của một gia đình người Mông, đăm chiêu nghiêng ngó. Ông hớp từng ngụm rượu nhỏ rồi thong thả buông quả dọi từ chóp nón là điểm cao nhất cực Bắc, thấu vào vùng mặn mòi phù sa Cà Mau - mũi đất cực
Ông là người thích xê dịch, mơ mộng đầy chất lãng tử. Bởi vậy ông ao ước được ngồi trên chiếc trực thăng tốc hành, bay từ cực Nam rồi đổ bộ xuống vùng đất muôn trung khuất nẻo cực Bắc này để thêm yêu giang sơn gấm vóc của ta hơn, mang theo cả những mầm đước để góp thêm màu xanh cho xứ đá, kèm theo than đước đỏ rực trong chiếc lồng ấp. Cá tươi của Cà Mau, nướng cùng những bìa đậu phụ do bàn tay người mẹ dân tộc Mông tảo tần làm ra, uống rượu ngô men lá để ngẫm ngợi về một vùng quê, núi non trùng trùng như lớp sóng thời tiền sử không tan quả là mãn nguyện…
Ông đã nói thay lớp nhà văn hậu thế chúng ta: "Cái tỉnh núi đã được đất nước, ông bà giao cho cái trọng trách đặt một chiếc nón lá lên đầu người khổng lồ Tổ quốc… Lũng Cú đích thị là cái chóp nón bài thơ muôn đời…". Và khi đứng bên cột mốc 17 (đoạn 3 Hà Giang - Vân
Phên dậu của đất nước là gì nếu không phải là mom sông, lũng núi, cỏ cây, đời người…! Vừa giản dị, cụ thể, mà cũng thật lớn lao, sâu nặng… Từ năm 1887, triều đình phong kiến Mãn Thanh (Trung Quốc) cùng Chính phủ Pháp thực dân đã dựng cột mốc này để phân chia biên giới hai quốc gia. Đến nay, trải qua thăng trầm, dâu bể… với bao máu xương của nhiều thế hệ đổ xuống… Lũng Cú vẫn mãi mãi xứng đáng như một chấm son, là địa chỉ tin yêu, ngưỡng vọng của bao người… Lẽ đó, địa danh Lũng Cú chính là tên gọi của một thủ lĩnh dòng họ Lô Lô đã có công khẩn hoang, mở mang bờ cõi…
Có lần tôi lên xóm Lô Lô Chải gồm 75 hộ dân, gặp già bản Vàng Dỉ Sinh hơn 70 tuổi đang lau chùi, nâng niu hai chiếc trống đồng. Trống đồng Lô Lô Lũng Cú thuộc trống đồng Đông Sơn (muộn). Tên khoa học là Hê Gơ (4) và Hê Gơ (4+1), trống nhỏ gọi là trống đực, trống to là trống cái. Đây là báu vật thiêng của thôn bản, dòng họ. Năm trước, một số kẻ tăm đồ cổ từ miền xuôi, băng rừng lội suối lên đây, đặt giá rất cao để mua, đồng bào căm ghét, khinh bỉ đã đuổi chúng ra khỏi bản… Đồng bào Lô Lô trước đây có phong tục may sắm quần áo đúng kiểu dân tộc Lô Lô Lũng Cú để mặc cho người qua đời, đưa tiễn người quá cố lên đường trời cũng bằng nhịp trống đồng như thế tổ tiên mới nhận…
Với lớp da mồi, thấm đẫm sương gió thời gian, không nhớ bao lần già Sinh trầm ngâm bên bếp lửa, ánh mắt sâu thẳm, bát rượu vơi lại đầy, hắt bóng lên vách đất đêm đêm. Cụ kể cho con cháu nghe nguồn cội của dân tộc mình, về đôi trống đồng Lô Lô - báu vật thiêng đến nỗi chỉ bậc cao niên, có uy tín, đức độ mới được bảo vệ. Không được phép đưa trống qua sông, thuồng luồng sẽ xuất hiện và lấy mất. Trống chôn dưới đất có than pơmu bao bọc để chống ẩm. Khi lấy lên sử dụng, đồng bào Lô Lô có bài cúng riêng, kèm đôi gà trắng và rượu, như vậy tiếng trống mới có linh nghiệm.
Tôi đắm chìm trong nhịp trống ngân nga, quanh ngọn lửa hồng là những vũ điệu mạnh mẽ, dẻo mềm mô phỏng nhịp sống lao động, khát vọng, tình yêu... đưa tôi về với ý nghĩ ban đầu... Chính cụ Sinh và những bậc cao niên trước đó đã gìn giữ và để lại cho con cháu mạch nguồn văn hóa dào dạt như dòng sông không hề vơi cạn và chệch hướng. Nếu đánh mất bản sắc văn hóa thì dân tộc mình sẽ ra sao trước sự nhiễu loạn và bất trắc của thế giới này? Bởi vậy, từ lúc thiếu thời đến khi về già, đồng bào vẫn mang theo câu hát nhắn nhủ: "Nếu nên người thì núm ruột hồng vượt lên đá nở thành hoa...".
Để biết chất lượng sống của dân, tôi đã vào các chợ để hiểu sức mua, nhìn vào bữa ăn của từng gia đình. Bát mèn mén của đồng bào hôm nay đã đầy hơn, thơm hơn. Khẩu phần dinh dưỡng có rau xanh, thịt cá. Một thứ thực phẩm sạch mà dưới vùng đô thị không hề có và rượu ngô thì không bao giờ thiếu... Từ xanh xao kiệt sức, Lũng Cú hôm nay như chàng trai cường tráng, đang yêu...
Bữa cơm tối được dọn ra, dưới ánh điện chan hòa, tôi nhìn Lầu Dúng Páo uống rượu sao mà thú vậy. Tôi không dùng được rượu nhưng cũng hăng hái cạch chén với mọi người để bữa cơm thêm thân tình ấm cúng. Lầu Dúng Páo nói với tôi: "Uống rượu cho lại sức rồi đi nghỉ, để sớm mai còn lên 283 bậc đá, thăm cột cờ Lũng Cú trên đỉnh núi Rồng, hoàn thành trong năm 2002". Độ cao trung bình ở Lũng Cú là 1.800m so với mặt nước biển, bởi vậy cột cờ Tổ quốc nơi đây đường bệ như một ngọn tháp ngà cao gần 20m, nâng lá cờ Tổ quốc rộng 54m2, trông thật bề thế và ấn tượng...
Trong câu chuyện với các đồng chí lãnh đạo xã Lũng Cú, tôi biết đời sống của đồng bào đã khá lên rõ nét. Trong 3.118 khẩu (599 hộ) hiện thời không còn hộ đói. Với 9 thôn bản thì 8 thôn bản đã có điện thắp sáng bằng nguồn điện lưới quốc gia. 90% nhà ở của đồng bào đã ngói hóa, có sự hỗ trợ tấm lợp của tỉnh.
Tình trạng khan hiếm nước đã chấm dứt. Bệnh xá, trường học, trụ sở xã đều được xây dựng kiên cố hai tầng. Nhà ở cho giáo viên, học sinh nội trú dân nuôi, khang trang thoáng mát. Năm 2003, Lũng Cú còn được đầu tư 4 tỷ đồng để xây dựng nhà nghỉ và một số cơ sở hạ tầng phục vụ khách đến thăm. Đàn gia súc bò, ngựa, dê... không ngừng tăng, lương thực bình quân 320kg/người/năm là kết quả của việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào canh tác... Trạm thu phát lại truyền hình, nhà bưu điện văn hóa xã cũng là nét mới về đời sống tinh thần của Lũng Cú hôm nay...
Về khuya, miền đất địa đầu như lạnh hơn, Lũng Cú chìm dần vào mênh mông sương trắng, bốn bề im vắng như một xứ thần tiên...
Qua hết thảy buồn vui, còn lại trong tôi một Lũng Cú dữ dội và kiêu hãnh. Một tấm gương của ý chí, nghị lực, khát vọng... Lũng Cú đang thay dần tấm áo cũ chật hẹp để khoác lên mình dáng vẻ mới của cuộc sống hiện đại, bởi lúc vào tôi đã gặp đoàn ngựa thồ nặng trĩu hàng trên lưng, bên đoàn xe gắn máy đang lướt nhanh trên những con đường mới...
