Làng nghề truyền thống trước nguy cơ mai một
Hải Phòng từng có tới 60 làng nghề truyền thống với trên 20 lĩnh vực, giải quyết hàng vạn lao động, song tới nay chỉ còn 12 làng nghề hoạt động trong tình trạng… lay lắt.
Èo uột làng nghề
Dù là thành phố công nghiệp, cảng biển, dịch vụ thương mại nhưng Hải Phòng cũng là nơi có nhiều làng nghề truyền thống có tuổi nghề trên dưới 200 năm. Trong đó, nhiều nơi đáng để gọi là "xã nghề" mới tương xứng với tên tuổi vang lừng khắp chốn như làng tạc tượng Bảo Hà (Vĩnh Bảo), làng mộc Kha Lâm (Kiến An), làng mây tre đan lát ở Chính Mỹ, làng đúc Mỹ Đồng (Thủy Nguyên)...
Bắt đầu từ năm 2001, từ những chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng, công nghiệp, đô thị kèm theo là những diện tích sản xuất nông nghiệp phải nhường chỗ cho phát triển dự án, chính quyền các địa phương đã thực hiện chủ trương củng cố các làng nghề nhằm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm cho người dân khi ruộng vườn không còn nhiều. 60 địa phương trong toàn thành phố đã được công nhận làng nghề truyền thống, được hưởng những chính sách ưu tiên, ưu đãi, hỗ trợ để củng cố và phát triển…
Chính vì đó, một thời Hải Phòng đã rất tự tin công bố sẽ xây dựng thành phố ngày một hiện đại nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống khi có trong tay 60 làng nghề, nông dân ly nông chứ không ly hương. Đáng tiếc, mới chỉ hơn 10 năm đi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, số làng nghề giờ chỉ còn lại 1/5 và nay chỉ còn 12 làng được công nhận. Mặc dầu vậy, 12 làng nghề truyền thống này đang phải đối mặt với hàng loạt thử thách nghiệt ngã của cơ chế thị trường, môi trường sinh thái, vốn đầu tư và đầu ra cho sản phẩm.
Xã Chính Mỹ (Thủy Nguyên), hàng trăm năm nổi tiếng với nghề chế tác sản phẩm bằng mây, tre, cói, đan lát. Thời mở cửa, sản phẩm từ những đôi bàn tay tài hoa của người dân đã có mặt khắp nơi trên thế giới. Những năm trước, đến làng nào cũng thấy nhộn nhịp, sống động. Tre, mây, cói phơi, nhuộm rải đầy đường, ngày nào cũng có đoàn xe tải lớn về mang hàng ra cảng. Nay ngược lại, trai gái trong làng không còn thiết tha với nghề, có cơ hội là bỏ đi xa kiếm sống.
Một vị cao niên cho chúng tôi biết, khả năng thất truyền trong nay mai đã thấy rõ. UBND xã trước nguy cơ "mất danh hiệu làng nghề" phải tất tả ngược xuôi, kêu gọi, vận động, xin cơ chế, tìm vốn cho đầu vào, tìm chỗ tiêu thụ đầu ra nhưng vẫn bó tay trước nhựa, sắt, inox. Sản phẩm mây tre như bàn ghế, vật dụng trưng bày hiện không thể cạnh tranh nổi với hàng của Trung Quốc bán tràn lan…
Cũng ở Thủy Nguyên, làng gốm sứ Dưỡng Động ở xã Minh Tân nổi tiếng từ cách đây hơn 200 năm. Liên minh HTX TP Hải Phòng, các ngành, cấp cũng từng đầu tư công sức vào đây để đào tạo, dạy nghề, hỗ trợ giới thiệu, quảng bá cốt để giữ được nghề truyền thống. Bản thân các chủ lò gốm sứ cũng đã mạnh dạn chuyển đổi từ sản xuất thủ công sang cơ giới, máy móc nhưng rồi cũng không "đứng" được. Giờ chẳng mấy ai còn nhớ tới thương hiệu truyền thống gốm sứ Dưỡng Động, thậm chí là rất xa lạ so với gốm sứ Trung Quốc.
![]() |
| Làng đúc Mỹ Đồng (Thủy Nguyên) điểm nóng về ô nhiễm môi trường. |
Làng nghề "tự khổ" vì ô nhiễm
Điển hình là làng đúc kim loại xã Mỹ Đồng (Thủy Nguyên). Đây cũng là làng nghề uyển chuyển, thức thời nhất tại Hải Phòng. Cả làng có tới 150 hộ chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang mô hình doanh nghiệp. Trong đó, nhiều doanh nghiệp quy mô lớn không thua kém gì những nhà máy hiện đại, đa dạng sản phẩm, mở kênh tiếp thị sản phẩm ra cả nước ngoài thông qua website, qua hội chợ triển lãm...
Nhưng nhìn vào chiều sâu, sự lớn mạnh này, mạnh ai nấy làm, ai cũng có chung một mục tiêu: mở xưởng thật to, làm và tiêu thụ thật nhiều sản phẩm, thu nhập vượt trội. Còn vấn đề cốt lõi là phát triển theo định hướng, không phá vỡ quy hoạch chung, không gây ô nhiễm môi trường thì ít ai chú ý. Đơn cử, tiếng là đúc mỹ nghệ, cơ khí nhưng cả xã hầu như không chủ động tìm đầu ra, đi tắt đón đầu xu thế khách hàng, ai đặt gì làm nấy. Trong suốt mấy năm qua, chỉ tập trung vào một loại sản phẩm là đúc các họa tiết, hoa văn, cọc tiêu để làm cổng ngõ, tường rào. Chỉ cần một sự thay đổi về nhu cầu của khách hàng thì cả làng đúc sẽ lao đao.
Cũng do mở rộng quy mô sản xuất theo phong trào, chỉ quan tâm đến số lượng sản phẩm, thu nhập mà không hề chú ý đến các nguyên tắc tối thiểu về bảo vệ môi trường. Đặc điểm của làng nghề này là nguyên liệu đúc có nguồn gốc từ những phế liệu được thu gom, phân loại thủ công. Cả xã đâu đâu cũng gặp những đống rác cơ khí, đồ dùng gia đình thải loại. Gọi là cơ khí hóa nhưng công nghệ đúc tại đây vẫn đậm chất thủ công, lạc hậu, ô nhiễm khí thải, nước thải luôn ở mức độ cao gấp nhiều lần tiêu chuẩn cho phép.
Ô nhiễm phải khắc phục, nhưng ở Mỹ Đồng không ai bảo được ai. Chính quyền xã buộc phải chấp nhận thực trạng vì đã trót bung ra giờ không thể thu hẹp. Các ngành chức năng về kiểm tra, nhắc nhở và yêu cầu giải pháp khắc phục. Nhưng kiểm tra xong bỏ đó, vì một khi cả làng vi phạm thì không biết xử lý ai trước, ai sau, xử lý kiểu gì cũng vướng, đành chờ ý kiến chỉ đạo của cấp cao hơn.
Từ chỗ 60 làng, giờ còn 12 làng và tiếp tục xu hướng giảm, "sống" cũng dở và "chết" cũng dở. Đây là bài toán cần sớm được giải mã từ phía chính quyền, các cấp, ngành của TP Hải Phòng

