Không để cho anh nằm mãi nơi đất lạnh (phần 2)
Bị giặc Pháp khui hầm, quyết không để rơi vào tay chúng, 7 đồng chí đánh trả rồi rút chốt lựu đạn cùng... tự sát. Trong số 7 chiến sĩ thì 6 người đã được công nhận là liệt sĩ nhưng còn 1 người vẫn chưa được công nhận và vẫn chưa tìm thấy hài cốt.
Chúng tôi được biết từ năm 1997 đến nay, ít nhất đã có 3 lần nhân dân cùng chính quyền hai xã Minh Hải và Đại Đồng thu thập, hoàn chỉnh hồ sơ, và 2 lần đề nghị cấp trên công nhận danh hiệu liệt sĩ cho ông Đỗ Văn Ngãi vào tháng 7/1999, tháng 10/2003. Nhưng cho đến đầu tháng 7/2005, khi tôi đang viết phóng sự này thì vẫn chìm trong... vô vọng.
Công văn của Phòng Chính trị - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hưng Yên gửi ông Tạ Lương (cán bộ lão thành Cách mạng, tiền khởi nghĩa) trả lời về việc công nhận liệt sĩ có đoạn viết:
“Theo quy định của chính sách hiện hành, việc công nhận Liệt sĩ đối với quân nhân Đỗ Văn Ngãi là không đủ điều kiện để xem xét giải quyết”. Và khẳng định chỉ cần có 1 trong 5 yếu tố (đã dẫn ra trong công văn) là được công nhận liệt sĩ.
Ví dụ yếu tố thứ nhất:
- Có mộ trong nghĩa trang liệt sĩ, được chính quyền và nhân dân địa phương suy tôn và đưa vào nghĩa trang liệt sĩ an táng và bảo quản. (Chúng tôi trích nguyên văn).
Có một thực tế là: Trong số 7 người hy sinh ở cái hầm bí mật huyền thoại ấy thì có 4 đồng chí: Nguyễn Văn Thung, Nguyễn Văn Chử, Kiều Văn Cầu, Nguyễn Văn Đặng là cán bộ, đảng viên, du kích quê xã Minh Hải, gia đình và dân làng đem chôn chung một nơi; còn 3 đồng chí: Nguyễn Tri Phương, Đỗ Chí Vụ, Đỗ Văn Ngãi là cán bộ, đảng viên thuộc Huyện đội Văn Lâm được chôn chung một nơi khác. Tất nhiên cả 7 người đều được quàn vào quan tài bằng gỗ đa trước khi hạ huyệt và được phân biệt đánh dấu để khi cất mộ khỏi lầm.
Riêng về điểm này, chúng tôi vô cùng cảm phục và kính trọng những cán bộ kháng Pháp, họ vừa là người chỉ huy lãnh đạo vừa là những người làm công tác chính sách thời chiến vô cùng tận tình. Ông Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến xã Minh Hải lúc đó đã biết nhìn xa trông rộng, ông cho du kích đốn cây đa làng và đóng các quan tài để sẵn phòng khi chiến đấu, rủi có người của đằng mình hy sinh thì có cái mà sử dụng. Và đồng chí Nguyễn Văn Cầm, xã đội trưởng đã chỉ huy cuộc chôn cất đau thương, đầy nghĩa tử này.
Chúng tôi thấy phải có trách nhiệm thông tin đến bạn đọc rõ: Khoảng năm 1953 nhất là từ năm 1954, sau hòa bình lập lại, các gia đình lần lượt cải táng cho người thân đã hy sinh ở căn hầm bí mật ấy. Ông Thung, ông Chử, ông Cầm, ông Đặng ở xã Minh Hải; ông Phương ở xã Như Quỳnh bên cạnh, ông Vụ ở xã Trưng Trắc gần đó; 6 ông đều còn gia đình, nên được người thân cất bốc hài cốt đưa về nơi an nghỉ theo phong tục tập quán địa phương. Khi Nhà nước ta có chính sách quy tập hài cốt liệt sĩ vào nghĩa trang thì chính quyền địa phương cùng 6 gia đình đã lần lượt đưa hài cốt 6 ông trên từ nghĩa địa thôn vào nghĩa trang liệt sĩ huyện Văn Lâm. Và người ta cũng làm thủ tục công nhận các ông là liệt sĩ. Còn riêng ông Đỗ Văn Ngãi xã Đại Đồng thì không!
Chiến sĩ Đỗ Văn Ngãi có một hoàn cảnh bất hạnh, thương tâm: Mẹ là bà Nguyễn Thị Dịch chết đói năm 1945. Bố là ông Đỗ Văn Nghị bị chết khi đi phu năm 1948. Không còn gia đình, chẳng có người thân thích nên không ai cất bốc mộ chiến sĩ Ngãi.
Ông Ngãi hy sinh ở xã Minh Hải, nhưng không phải người của địa phương nên cũng không có ai cất bốc đưa hài cốt ông vào nghĩa trang liệt sĩ, và vì ông là bộ đội nên chính quyền xã cũng không làm thủ tục đề nghị công nhận liệt sĩ cho ông. Một thời gian dài, ở xã Minh Hải người ta cứ nghĩ ông Ngãi đã được công nhận và có tên trong sổ danh sách liệt sĩ xã Đại Đồng. Nhưng khi mở sổ danh sách liệt sĩ của xã Đại Đồng ra thì tên ông không có.
Hình như chính quyền xã Đại Đồng thời trước ấy không ai biết ông Ngãi đã hy sinh oanh liệt bi tráng như thế và người ta quên luôn ông Ngãi đã đi bộ đội mà chưa một lần về làng. Còn lớp cán bộ trẻ sau này lại càng không biết ông Ngãi là ai nên khi dựng lại lý lịch, chân dung, thân thế, sự nghiệp ông Đỗ Văn Ngãi đều phải tìm hiểu qua những vị lão thành cách mạng và ông già, bà lão trong làng.
Thực tế là như vậy, không đáp ứng yếu tố thứ nhất như công văn của Phòng Chính trị - Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hưng Yên, cũng là điều dễ hiểu. Nhưng chả lẽ vì hoàn cảnh gia đình bất hạnh không người chăm nom, cất bốc; vì sự sơ suất của chính quyền cơ sở cách đây năm mươi năm mà người hy sinh vì dân vì nước lại thiệt thòi mãi mãi?
Ví dụ về yếu tố thứ 6 (nếu có cũng được công nhận liệt sĩ):
- Có tên, trường hợp hy sinh trong danh sách hoặc sử sách truyền thống của đơn vị... (chúng tôi trích nguyên văn).
Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Minh Hải thì viết từ năm 1995, trang 101 đã nói về trận càn và sự hy sinh anh dũng của 7 cán bộ, đảng viên trong căn hầm bí mật bên bờ ao nhà đồng chí Nguyễn Văn Thung: “Trong đó có 3 đồng chí cán bộ huyện đội Văn Lâm, và 4 đồng chí người địa phương là đồng chí Thung Bí thư Chi bộ, đồng chí Chử cán bộ giao thông huyện, đồng chí Cầu và đồng chí Đặng cán bộ xã...”. Có lẽ do giản đơn hoặc sơ suất, những người viết sử Minh Hải chỉ ghi danh 4 người địa phương mà không đưa tên ông Phương, ông Vụ, ông Ngãi vào.
Chúng tôi biết Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Đại Đồng đến bây giờ mới đang viết, đang hoàn thiện và chưa in. Có phải vì thế mà ông Đỗ Văn Ngãi không được công nhận liệt sĩ?
Lịch sử do con người làm ra, viết ra. Viết sai thì sửa, nhưng trong trường hợp này không sai mà là: Một xã đang viết chưa in, một xã in rồi nhưng viết thiếu. Để đáp ứng được yếu tố thứ 6 vừa nêu trên, chỉ còn cách: Trong lần tái bản tới, trường hợp hy sinh của ông Đỗ Văn Ngãi được Hội đồng viết sử địa phương thống nhất bổ sung họ tên vào quyển sử truyền thống của xã Minh Hải hoặc xã Đại Đồng. Vậy lúc đó, Phòng Chính trị - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hưng Yên có làm đề nghị công nhận liệt sĩ cho ông Ngãi không?
Những người cùng thời lên tiếng
Chúng tôi - những nhà báo chiến sĩ rất may mắn được gặp ông Nguyễn Mộng Long hơn 70 tuổi tóc bạc trắng như cước. Ông Long vốn là Thiếu tá ở Quân đoàn 1, nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Minh Hải tận tình đưa đến gặp nhiều nhân chứng cùng thời với ông Đỗ Văn Ngãi, hiện nay đang còn sống ở Văn Lâm.
+ Ông Tạ Lương quê ở xã Chỉ Đạo là cán bộ lão thành cách mạng, nguyên Bí thư Huyện ủy Văn Lâm. Ông là người trực tiếp chỉ huy chống càn ngày 14 - 2 âm lịch năm 1950, lúc đó ông là Ủy viên Thường vụ Huyện ủy kiêm Chính trị viên huyện đội, ông cũng chui xuống hầm ẩn náu nhưng địch không phát hiện ra. Ông Tạ Lương đã 84 tuổi, người vẫn còn khỏe, minh mẫn, rất nhớ sự kiện 7 cán bộ, đảng viên anh dũng hy sinh trong căn hầm bí mật ở thôn Ao.
Ông Tạ Lương nói với chúng tôi: Đồng chí Ngãi là chiến sĩ liên lạc của tôi. Người chú ấy nhỏ nhắn. Nước da trắng trẻo. Chăm chỉ. Gan dạ lắm. Chiều hôm đó, khi địch rút đi, nghe anh em du kích báo cáo, tôi chạy đến nơi căn hầm bí mật thì anh Cầm xã đội trưởng đang cho người khênh quan tài gỗ đa ra khâm liệm. 7 anh em hy sinh nằm thành một hàng dài. Thương lắm.
Rồi ông ứa nước mắt, nói tiếp: Sau hòa bình lập lại một thời gian, tôi chuyển công tác lên Văn phòng Khu ủy Quân khu Tả Ngạn, rồi một thời gian dài không ở tỉnh nhà mà công tác ở Hải Phòng. Tôi cứ nghĩ chú Ngãi đã được công nhận liệt sĩ từ lâu rồi. Ai ngờ đến năm 1997 mới biết chú Ngãi chưa được suy tôn liệt sĩ. Tôi cũng đã làm đơn, viết thư cho các cơ quan nhưng người ta bảo là chú Ngãi không đủ điều kiện công nhận liệt sĩ. Tôi đau lắm. Tôi nay đã 84 tuổi gần đất xa trời rồi. Nếu chuyện chú Ngãi không giải quyết được, còn sống ngày nào là tôi còn khổ tâm ngày đó.
+ Ông Nguyễn Văn Cầm 84 tuổi, nguyên Xã đội trưởng, người trực tiếp chỉ huy mai táng 7 cán bộ, đảng viên. Ông Cầm nói: Việc chú Đỗ Văn Ngãi hy sinh cùng 6 anh em trong căn hầm bí mật ở nhà đồng chí Thung là có thật. Tôi cứ nghĩ bên xã Đại Đồng đã đề nghị công nhận liệt sĩ cho chú ấy từ lâu rồi.
+ Ông Nguyễn Văn Thiết 80 tuổi, thôn Ao, người trực tiếp mai táng chiến sĩ Đỗ Văn Ngãi: Tôi nói có bóng đèn kia. Tôi nhớ ông Ngãi người nhỏ, da trắng. Mấy ông dũng binh lôi ông Ngãi và anh em dưới hầm lên đặt thành hàng 7 người rồi rút đi. Ông Cầm xã đội trưởng chỉ huy chúng tôi. Tôi với ông Chuân, ông Huấn, ông Học, ông Chì đã chôn cất ông Thung, ông Chử, ông Đặng, ông Cầu là người xã tôi và ông Phương, ông Vụ, ông Ngãi là người của huyện đội...
+ Bà Đoàn Thị Tiêm, 84 tuổi, vợ đồng chí Nguyễn Văn Thung cùng hy sinh trong căn hầm bí mật ngay ở bên bờ ao nhà mình: Tôi còn nhớ chú Ngãi da trắng như con gái, người nhỏ, hay hát. Chú Ngãi hy sinh cùng chồng tôi trong căn hầm bên bờ ao kia kìa. Vậy mà chồng tôi được là liệt sĩ, còn chú Ngãi thì không. Thương lắm. Bây giờ chả tìm thấy mộ, không đưa được chú ấy vào nghĩa trang thì cũng phải ghi tên chú vào nhà bia tưởng niệm chứ.
Lời người viết
Ông Đỗ Văn Ngãi trước khi hy sinh là chiến sĩ liên lạc Huyện đội Văn Lâm. Có nghĩa ông là quân nhân của Ban Chỉ huy Quân sự huyện Văn Lâm, của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Hưng Yên. Chúng tôi không biết các đồng chí lãnh đạo, hai đơn vị trên đã tổ chức lực lượng đi xác minh, tìm kiếm, để cất bốc hài cốt quân nhân Đỗ Văn Ngãi chưa?
Liệu những nhân chứng cùng thời xác nhận và địa phương xác minh đề nghị thì ông Ngãi đã đủ điều kiện suy tôn liệt sĩ chưa? Chúng tôi tha thiết mong các đồng chí làm công tác Chính sách thương binh liệt sĩ, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, các đồng chí lãnh đạo tỉnh Hưng Yên cử cán bộ về tận nơi ông Ngãi sống và hy sinh tìm hiểu cụ thể, xem xét, đề nghị Nhà nước công nhận liệt sĩ cho quân nhân Đỗ Văn Ngãi, đồng thời sớm tìm kiếm cất bốc, đưa hài cốt ông về nghĩa trang liệt sĩ để thực hiện đúng đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và làm yên lòng dân hai xã Minh Hải, Đại Đồng nói chung và các cựu chiến binh nói riêng.
Sắp tới sẽ có cuộc tìm kiếm phần mộ liệt sĩ Đỗ Văn Ngãi rất công phu và tốn kém. Bạn đọc tri âm có lòng hảo tâm đóng góp kinh phí xin gửi về tòa soạn, hoặc Hội Cựu chiến binh xã Minh Hải, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
