CAND trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước:

Họ đã cống hiến cả tuổi thanh xuân

Thứ Ba, 22/12/2009, 10:42
Tôi đã được chứng kiến ngày hội ngộ của họ, những cán bộ Công an miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước...

Những vòng tay xiết chặt, lệ nhòa khóe mắt, những lời tâm tình thấm đẫm tình đồng đội, họ đã một thời cùng vào sinh ra tử. Nay, tóc họ đã bạc trắng, da nhăn, bước đi chậm chạp… nhưng vẫn còn vẹn nguyên đầy ắp và mãi mãi trong họ là ký ức về một thời thanh xuân đã sống và cống hiến cho đất nước. Và, cứ vào Ngày giải phóng miền Nam 30/4 hằng năm là họ lại tề tựu về Thủ đô Hà Nội.

Một trong những thành viên trong Ban liên lạc của các cán bộ Công an chi viện cho chiến trường miền Nam ngày ấy là ông Đoàn Hữu Thuyên. Tôi tìm đến nhà ông ở một ngõ nhỏ trên đường Giải Phóng, Hà Nội vào một sớm đông lạnh buốt. Bây giờ, ông Thuyên đã nghỉ hưu với cấp hàm Đại tá.

Với giọng trầm và rắn rỏi của người miền biển Thái Thụy (Thái Bình), ông Thuyên kể về thời trai trẻ của mình như vừa mới tinh khôi. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, bố mẹ phải đi làm thuê cuốc mướn mà vẫn chẳng đủ ăn. Là anh cả của 6 đứa em, đến tuổi trưởng thành, Đoàn Hữu Thuyên tha thiết được đi đánh Mỹ. Tháng 11/1966, ông được tuyển vào lực lượng Công an và được đào tạo tại Trường Thông tin liên lạc ở Hải Phòng.

Đồng chí Trần Đông, nguyên UVTW Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an với đồng chí Hoàng Hữu Thuyên (người thứ 2 bên trái) và những cán bộ Công an chi viện cho chiến trường miền Nam.

Khao khát lớn nhất của những thanh niên như Đoàn Hữu Thuyên là được vào chiến trường. Ông đã về học lớp bồi dưỡng đi B, lớp B27 Trường C500 (Học viện An ninh nhân dân bây giờ). Lớp có tới 34 người, người nào cũng mong từng ngày để lên đường vào Nam chiến đấu. Để rèn luyện sự dẻo dai bền bỉ, ban ngày thì học tập, ban đêm thì đeo ba lô gạch nặng tới 50kg, đi bộ một vòng theo lộ trình Hà Đông - đường Giải Phóng - Giáp Bát - Hà Đông dài hàng chục kilômét, rồi leo cầu thang cho… dẻo chân. Vất vả gian khổ là thế nhưng ai cũng mong từng ngày được lên đường vào Nam. Và ngày ấy đã đến, vào một đêm trời mưa tầm tã, 2 chiếc xe bịt kín tới chở những người lính trẻ lên đường (12 cô gái, 22 chàng trai). Tới làng Kho (Quảng Bình), tiếp theo là chặng đường đi bộ vào Nam dằng dặc. Cứ đêm đi ngày nghỉ, trên lưng là máy móc điện đài, đạn dược và các nhu yếu phẩm. Đường Trường Sơn cheo leo vách núi, máy bay vãi đạn trên đầu nhưng ai cũng vững một niềm tin, một tình yêu với đất nước. Bữa ăn là rau rừng, củ mài, củ sắn, nước uống chia nhau từng ngụm, có lần còn uống cả nước hố bom đã bị nhiễm độc, muỗi, vắt cắn chảy máu chân…

Triền miên suốt mấy tháng trời như vậy nên nhiều người đã ốm nặng, phải nằm lại các trạm giao liên. Nam giới đã khổ, với chị em thì nhiều lúc nhìn nhau mà cười ra nước mắt. Vào tới Trung ương Cục Miền Nam quân số chỉ còn một nửa. Họ được bố trí phân công tỏa đi các tỉnh miền Tây, miền Đông, khu Sài Gòn - Gia Định, có người quay lại Khu 5. Cùng tập kết về Ban An ninh Tây Ninh với Đoàn Hữu Thuyên có đồng chí Phạm Ngọc Huy, trên đường đi đã bị máy bay trinh sát của Mỹ phát hiện rượt đuổi bắn dưới rừng già. Hai anh em vừa nhảy xuống một hố thì trái rốc-két cắm phập miệng hố, may sao nó đã không nổ. Ai nấy đều thở phào vì thoát khỏi bàn tay của tử thần.

Hai anh em lại tiếp tục lên đường cuốc bộ về Ban An ninh Tây Ninh. Đồng chí Tô Lâm (Tô Quyền) là Phó ban An ninh Tây Ninh hỏi thăm về quê hương của 2 người. Biết cả hai đều quê ở Thái Bình nên đồng chí Tô Lâm đặt cho họ biệt danh là Hai Bình và Hai Thái. Biệt danh ấy đã theo họ suốt những ngày ngủ hầm cơm vắt ở mảnh đất Nam Bộ thành đồng. Làm báo vụ, thường xuyên ở dưới hầm. Những lúc lên khỏi mặt đất là thay nhau xâm nhập vào ấp chiến lược để mua lương thực và các thực phẩm thiết yếu. Những lần địch tuần tra ráo riết không vào được thì những ngày đó đành phải… đói meo. Rồi một lần, đồng chí Tám Mật (30 tuổi) đang trên đường mang gạo về bị địch bắn chết. Lần khác chuyển cứ, địch lại bắn chết đồng chí Ba Rành. Có lần pháo bắn làm đồng chí Dân và đồng chí Sừng hy sinh.

Ông Thuyên hồi tưởng: Ở rừng, ở cứ cây cối rậm rạp nhưng máy bay suốt ngày quần thảo. Điều kiện làm việc của những người ở Ban An ninh Tây Ninh luôn rình rập mối nguy hiểm. Nhưng được giác ngộ cách mạng và được giáo dục đào tạo ở hậu phương lớn miền Bắc nên ai cũng xác định phải sống, chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ của một cán bộ Công an chi viện cho miền Nam ruột thịt. Ở Ban An ninh Tây Ninh một thời gian, đến đầu năm 1972, Đoàn Hữu Thuyên lại được điều động về Ban An ninh khu Đông Nam Bộ. Về đơn vị mới, máy bay cứ vèo vèo lượn trên đầu. Có đồng chí hy sinh, đau đớn lắm, như đồng chí Tám Mật. Địch đã kéo lê xác anh khắp ấp chiến lược để uy hiếp người dân, cho tới khi thi thể anh rách tả tơi… Đến khu Miền Đông, Đoàn Hữu Thuyên được đồng chí Hai Tiền đón tiếp, động viên và giao nhiệm vụ. Gian khổ nhất là cuộc bị địch càn, chạy trên đồng nước mênh mông, trên thì máy bay quần thảo, đầu đội ba lô chạy loạn, điện đài bị ngắt quãng không liên lạc được. Tới khi thoát được làn đạn của địch, liên lạc được với tổ chức thì người đã rũ… như tàu lá héo. Nhưng dù trong bất kỳ hoàn cảnh gian khổ, nguy hiểm như thế nào, người chiến sĩ thông tin vẫn luôn coi điện đài liên lạc như máu thịt của mình. Tới ngày giải phóng miền Nam 30/4, khó có thể tả xiết niềm vui của những người lính như Đoàn Hữu Thuyên.

Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, 2 năm sau chàng trai ấy mới khoác ba lô trở về miền Bắc thăm gia đình. Gần 10 năm trời xa quê, không một lá thư cho người bạn gái ở quê nhà. Trở về trong sự ngỡ ngàng khôn tả, người bạn gái là bạn học cũ (cô Hoa) vẫn đợi chờ. Cô Hoa là công nhân giỏi của nhà máy dệt thành Nam. Trong trái tim cô thợ dệt xinh đẹp ngày ấy luôn ẩn chứa một tình yêu mãnh liệt. Họ đã nên vợ nên chồng và có một gia đình ấm áp. Bây giờ ông đã là một cán bộ Công an có cấp hàm Đại tá, ông luôn tự hào về một thời trai trẻ.

Giống như ông Thuyên, 34 người lính rời mái trường C500 ngày ấy đã cùng ông vào sinh ra tử, góp sức mình cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Tuổi trẻ của họ đã được khắc ghi bằng những ký ức hào hùng, bằng những năm tháng không thể nào quên

Kim Quý
.
.
.