Hồ Chí Minh qua hồi ức của một người bạn Pháp

Thứ Hai, 26/01/2009, 15:39
Có một người pháp mà ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX là một người bạn thân thiết với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông là Giắc Đuyclô, sinh năm 1896, nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Pháp từ năm 1946 đến năm 1952; Thượng nghị sĩ Pháp từ năm 1959. Ông còn là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp từ năm 1931.

Cuộc đời hoạt động của Giắc Đuyclô còn vượt qua khỏi biên giới nước Pháp để đến với nhiều quốc gia khác nhau, trong đó nổi bật lên là tình cảm mà ông đã dành cho đất nước và con người Việt Nam. Với Nguyễn Ái Quốc (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) không đơn thuần là một người bạn thân thiết, mà với ông, đó còn là người đồng chí trong phong trào Cộng sản quốc tế. Dưới đây là những hồi ức của Giắc Đuyclô về Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Lần đầu tiên tôi gặp Nguyễn Ái Quốc tại một cuộc họp của Ủy ban Đệ tam Quốc tế ở khu Latinh, gần đường Xanh Giécmanh, thành phố Pari. Ông kể: "Tôi nhớ rõ hồi đó thân hình anh Nguyễn (tên của Bác Hồ khi hoạt động ở Pháp) mảnh khảnh, tóc đen, dáng người trẻ hơn tuổi. Anh Nguyễn hơn tôi 6 tuổi nhưng trông chỉ bằng tuổi tôi. Người Việt Nam trẻ rất lâu. Con người giản dị, lịch sự, dễ mến của anh Nguyễn đã thu hút tôi ngay từ buổi đầu. Tôi hỏi anh tình hình nước anh. Tôi bỗng nhớ đến những lần tôi về quê ở vùng Tácbơ, gần dãy núi Pirênê, tôi đã thấy nhiều người Việt Nam làm việc ở bin công xưởng của địa phương. Họ bị giam trong trại và bị đối xử xấu. Tôi muốn biết chuyện những người Việt Nam đó và tôi hỏi anh Nguyễn Ái Quốc vì sao họ phải sang Pháp làm. Anh Nguyễn bắt đầu kể cho tôi nghe tình hình nước anh và những hành động xấu xa của chủ nghĩa thực dân Pháp đang thống trị nhân dân anh.

Đối với tôi, đấy là điều mới lạ. Vì lúc đó ở Pháp, người ta giới thiệu chính sách thuộc địa như là một công việc xuất cảng văn minh sang các nước lạc hậu. Nhờ quen biết anh Nguyễn mà tôi hiểu sự thật về chủ nghĩa thực dân Pháp. Thấy anh là một người rất tốt, tôi kết bạn với anh. Chúng tôi thường gặp nhau trong các cuộc họp, nhất là ở phòng họp "Hội phổ biến kiến thức" - nơi anh Nguyễn hay lui tới. Anh Nguyễn và tôi lúc đó đều là thanh niên. Hai người chúng tôi gặp nhau là nói chuyện, bàn luận rất nhiều và sôi nổi về tình hình thời sự, trong đó có chuyện về nước Nga Xôviết. Hồi đó, chúng tôi đang đi quyên tiền trong các phố Pari để giúp cách mạng Nga vượt qua nạn đói, hậu quả của việc Chính phủ Pháp và chính phủ các nước đồng minh bao vây nước Nga Xôviết. Một hôm, tan buổi họp, đi trên đường phố, anh Nguyễn nói với tôi: "Này, Giắc ơi, cách mạng Nga đang bị tiến công, nhưng nó sẽ chiến thắng mọi kẻ thù. Tất cả chúng ta còn gặp nhiều khó khăn trước khi đi tới thắng lợi cuối cùng".

Sau đó, anh đến nhà tôi chơi. Lúc bấy giờ tôi chỉ có một căn buồng nhỏ, nghèo khổ giữa Pari. Tôi nhớ rõ hồi đó anh bàn luận với tôi về vấn đề đảng. Anh nói: Một đảng cách mạng phải là một đảng có kỷ luật. Một khi đảng đã quyết định, không thể có tình trạng mỗi người làm một cách, mỗi người đi một nẻo mà phải kết hợp chặt chẽ hành động của đảng viên với nghị quyết của đảng. Hồi đó trong đảng Xã hội Pháp có hiện tượng trong buổi họp đảng, Bí thư đảng báo cáo, mọi người thảo luận rồi ra nghị quyết, nhưng đến khi thi hành thì không có ai làm. Anh Nguyễn nói đến chuyện đó và bảo tôi rằng đã đến lúc cần phải có một đảng mới, một đảng mà trong đó không có lề lối làm việc như ở nghị viện. Chúng tôi nhận thấy tác phong, kiểu cách đấu tranh như ở nghị viện đang là cái tệ trong sinh hoạt của đảng Xã hội và chúng tôi bảo nhau phải kiên quyết đấu tranh chống cái tệ đó.

Tháng Chạp năm 1920, anh Nguyễn được cử làm đại biểu đi dự đại hội Tua của đảng Xã hội. Tôi không được đi đại hội. Anh Nguyễn là đại biểu Việt Nam duy nhất ở đại hội và anh đã lên án chủ nghĩa thực dân tại đại hội, nhắc mọi người quan tâm đến tình hình của nhân dân anh, của nhân dân Đông Dương đang bị thực dân Pháp thống trị. Ở đại hội ấy, những kẻ cơ hội chủ nghĩa cũng không thể ngăn anh nói đến việc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Tại đại hội, anh đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Ở đại hội, anh Nguyễn đã gặp đồng chí Clara Détkin, nữ chiến sĩ cách mạng lão thành Đức, Nghị sĩ Đức, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc tế Cộng sản, được cử làm đại diện Quốc tế Cộng sản đến dự Đại hội Tua của đảng Xã hội Pháp.

Đảng Cộng sản Pháp thành lập, tôi bắt đầu công tác cho đảng ở quận 10 của Pari, còn đồng chí Nguyễn Ái Quốc thì công tác ở quận 5. Vì chúng tôi không còn hoạt động trong Ủy ban Đệ tam Quốc tế nữa và phải hoạt động cách mạng ở những quận cách xa nhau nên từ đó chúng tôi ít gặp nhau. Cho đến một hôm tôi hỏi thăm đồng chí Nguyễn thì người ta cho tôi biết đồng chí Nguyễn Ái Quốc không còn ở Pháp. Tôi đoán là đồng chí Nguyễn đi Mátxcơva.

Mãi đến năm 1930, một số đồng chí ở Pháp, như đồng chí Đuycru, đi Trung Quốc về cho tôi biết đã gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc ở Trung Quốc. Cũng năm ấy, chúng tôi ở Pháp biết tin có cuộc đàn áp cách mạng hết sức dã man ở Đông Dương. Chúng tôi đã cử đồng chí Gabrien Pari sang Đông Dương đem theo những tài liệu, sách báo tiến bộ Pháp để giúp các bạn Việt Nam nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin. Và khoảng năm 1934-1935, tôi không ngờ lại có dịp gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc hai lần ở Mátxcơva. Chúng tôi mừng rỡ nhìn thấy nhau sau nhiều năm xa cách... Chúng tôi nói chuyện với nhau về quá khứ, về mọi tình hình. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc kể cho tôi nghe những năm hoạt động của đồng chí, về tình hình Việt Nam và Đông Dương.

Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại ĐH đại biểu Đảng Xã hội Pháp, ủng hộ Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa năm 1920.

Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, tôi luôn luôn nhớ đến đồng chí Nguyễn và tôi thường tự hỏi: "Anh Nguyễn đang làm gì đây?". Khi Pêtanh cử Đô đốc Đờcu sang Đông Dương làm Toàn quyền và Pháp dâng Đông Dương cho Nhật, tôi lại hỏi: "Trong trường hợp này, anh Nguyễn đối phó ra sao?". Cho đến một ngày mùa thu năm 1945, tôi vui mừng được tin cách mạng đã thành công ở Việt Nam và Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là đồng chí Hồ Chí Minh, tức đồng chí Nguyễn Ái Quốc thân mến của chúng tôi.

Rồi xảy ra vấn đề Đông Dương, việc Chính phủ Pháp gây chiến tranh ở Việt Nam, ngoan cố chống lại việc thống nhất nước Việt Nam và muốn chiếm Nam Bộ. Để giải quyết những vấn đề đó, Hồ Chủ tịch sang Pháp năm 1946 đàm phán với Chính phủ Pháp. Hồ Chủ tịch đến ở khách sạn Roayan Môngxô ở Pari. Chủ tịch mời chúng tôi đến chơi.

Tôi đến thăm Chủ tịch ở khách sạn. Chúng tôi lại được dịp kể chuyện cho nhau nghe kỷ niệm ngày trước và tình hình thời sự ngày nay. Hồ Chủ tịch cho tôi biết ở khách sạn không được an toàn. Chúng tôi đi tìm một chỗ ở khác cho Chủ tịch. Ít ngày sau, Hồ Chủ tịch rời khách sạn Roayan Môngxô, dọn đến ở nhà ông bà Ôbơrắc. Từ đó, Hồ Chủ tịch nhiều lần đến chơi nhà tôi.

Chúng tôi bàn luận tình hình. Bọn phản động trong Chính phủ Pháp tìm mọi cách chống lại việc thống nhất nước Việt Nam, chống lại nền độc lập của Việt Nam. Chúng tôi trao đổi ý kiến xem chúng tôi có thể giúp đỡ Hồ Chủ tịch được những gì. Mục tiêu của chúng tôi lúc đó là chống lại lập trường của Chính phủ Pháp về vấn đề Việt Nam và hết sức giúp đỡ Hồ Chủ tịch và nhân dân Việt Nam. Hồ Chủ tịch tâm sự với tôi và cho tôi biết Chủ tịch không tin rằng Chính phủ Pháp có thiện chí và Chủ tịch không tin Hội nghị Phôngtennơblô sẽ đạt kết quả tốt, do thái độ xấu của Chính phủ Pháp. Đã có lúc Hồ Chủ tịch muốn bỏ về Việt Nam ngay.

Theo tôi, Chính phủ Pháp lúc đó đi theo một đường lối rất không đúng đắn. Đối với những đề nghị đưa ra hồi đó về tự trị trong khối liên hiệp Pháp, một Chính phủ Pháp thông minh và biết điều lẽ ra phải chấp nhận rồi!

Hồ Chủ tịch đến thăm tôi vào buổi sáng và thường Chủ tịch đến một mình. Vợ chồng tôi đưa Chủ tịch đi xem thư viện, bàn giấy của tôi và chúng tôi thường ngồi uống nước chè, ăn bánh. Hồ Chủ tịch đã cho tôi một cái đồng hồ riêng của Chủ tịch và một tấm ảnh chụp chân dung Chủ tịch kèm theo chữ ký của Người. Những kỷ vật quý giá đó gia đình tôi còn giữ cẩn thận. Khi ở Pari năm 1946, Hồ Chủ tịch tiếp xúc với nhiều người và Chủ tịch có uy tín lớn. Hồ Chủ tịch đã làm tất cả mọi người mến Người vì Chủ tịch lịch sự, giản dị, đặt vấn đề một cách rõ ràng. Hồ Chủ tịch có một dáng đi nhanh nhẹn, tự nhiên chứ không có vẻ bệ vệ của một người đến bắt mọi người phải nghe ý kiến của mình. Người ta thấy rõ Hồ Chủ tịch là người bảo vệ một cách dũng cảm và kiên quyết quyền lợi của dân tộc mình. Chuyến đi Pháp năm 1946 của Hồ Chủ tịch đã gây ấn tượng mạnh mẽ và có tác động rất tốt trong nhiều giới nhân dân Pháp. Điều đó Chính phủ Pháp không thể không biết.

Nhưng tiếc thay sự việc lại diễn biến theo chiều hướng xấu. Thực dân Pháp gây chiến tranh trên toàn cõi Đông Dương, mở chiến dịch công kích chống lại Hồ Chủ tịch đúng vào thời điểm cách mạng Trung Quốc chưa thành công, chúng có thể bao vây được Hồ Chủ tịch ở Việt Bắc. Nhưng bọn thực dân thất bại. Lúc bấy giờ, trong bọn thực dân có những kẻ hí hửng nghĩ rằng chúng thắng Hồ Chủ tịch đến nơi và chúng sắp sửa đặt lại chế độ thuộc địa mới trên toàn cõi Việt Nam, nhưng  khi cách mạng Trung Quốc thành công thì chúng không còn hy vọng thắng cuộc nữa. Sau đó, chúng tôi vui mừng xiết bao khi nhận được tin quân đội viễn chinh Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ. Đây là sự kết thúc những niềm hy vọng của chủ nghĩa thực dân Pháp, trước tiên là ở Việt Nam. Khi Thủ tướng Pháp Măngđét Phrăngxơ xin một tháng để giải quyết vấn đề chiến tranh Đông Dương ở Hội nghị Giơnevơ, chúng tôi đã bỏ phiếu ủng hộ Măngđét Phrăngxơ, và chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh những quyết định của Hội nghị Giơnevơ về Việt Nam. Nhưng ngay hồi đó, người ta đã thấy rõ đế quốc Mỹ có những mưu đồ đen tối hòng thay thế chủ nghĩa thực dân Pháp và xâm chiếm miền Nam Việt Nam.

Năm 1957, tôi lại có dịp được gặp Hồ Chủ tịch nhiều lần ở Mátxcơva. Tôi đến thăm Chủ tịch ở nhà nghỉ của Người. Tôi có cảm giác như gặp lại một người anh. Hồ Chủ tịch nói cho tôi nghe tình hình ở Việt Nam và hỏi tôi tình hình Pháp. Vì Chủ tịch am hiểu nước Pháp và muốn biết rõ mọi việc xảy ra ở Pháp. Tôi vẫn thấy ở Chủ tịch những nét giản dị và lạc quan như xưa và tính kiên nghị cách mạng. Tôi bỗng nhớ đến câu nói của Chủ tịch với tôi năm 1946 trong lúc ngồi bàn chuyện thời sự: "Ở Việt Nam, bọn thực dân đang hành động một cách nhẫn tâm. Nhưng chúng tôi có nhân dân ủng hộ và chúng tôi nhất định thắng". Chủ tịch bao giờ cũng tin tưởng ở nhân dân và nhìn mọi việc bằng cặp mắt lạc quan cách mạng, trong bất cứ tình hình nào.

Khi tôi đi thăm Hà Nội, tôi đã được tận mắt thấy nhân dân Việt Nam kính yêu Hồ Chủ tịch biết chừng nào. Hồ Chủ tịch thật là một con người đặc biệt, một chiến sĩ cách mạng vĩ đại. Hồ Chủ tịch là một con người hết sức khiêm tốn và giản dị. Hồ Chủ tịch tượng trưng cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, là người cha của dân tộc Việt Nam, của toàn thể nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam. Đế quốc Mỹ vừa tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam vừa rêu rao câu chuyện vô lý "miền Bắc xâm lược miền Nam". Thực ra chúng sa lầy trong một cuộc chiến tranh mà chúng không biết thoát ra bằng cách nào. Điều chắc chắn là chúng sẽ thất bại và phải rút khỏi Việt Nam.

Đối với cá nhân tôi, điều đáng tiếc nhất là Hồ Chủ tịch đã từ giã tất cả chúng ta quá sớm, không được nhìn thấy thắng lợi cuối cùng. Hồ Chủ tịch là người xứng đáng nhất được hưởng thắng lợi đó vì Hồ Chủ tịch đã tạo ra nó

(Theo "Hồ Chí Minh, sự hội tụ tinh hoa tư tưởng đạo đức nhân loại")
.
.
.