Hình xăm biết nói
Với giang hồ thứ thiệt, hình xăm là dấu hiệu để nhận biết xuất xứ và đẳng cấp. Giang hồ gốc miền
Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” của Sử thần Ngô Sĩ Liên chép: “Bấy giờ (thời Hùng Vương – NV) dân ở rừng núi thấy cá tôm thường tụ họp ở sông ngòi, rủ nhau bắt cá để ăn, thường bị thuồng luồng làm hại. Tâu với vua, vua nói rằng: “Giống người Man ở núi có khác loài thủy tộc, loài ấy ưa cùng loài mà ghét khác loài, cho nên có tai nạn ấy”. Vua bèn sai mọi người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình. Từ đấy giống thuồng luồng trông thấy không cắn hại nữa. Tục người Bách Việt vẽ mình bắt đầu từ đấy”.
Ứng Thiệu, nhà chú giải sách Sử ký của Trung Quốc vào thế kỷ thứ II cũng giải thích tục vẽ mình của người Việt rằng: “Vì ở trong nước nên người ta cạo tóc xăm mình cho giống giao long nên không bị giao long hại nữa”.
Như vậy, tục xăm mình là một hiển chứng của tín ngưỡng dân gian. Đối với người Việt, những hoa văn được xăm đều liên quan đến đặc trưng văn minh lúa nước. Không ít nhà sử học cho rằng chính vì tục xăm mình nên quốc hiệu đầu tiên của nước ta mới được gọi là Văn Lang.
Nhiều dân tộc khác cũng có lệ xăm mình thích chữ. Từ đời Tần, ở Trung Quốc, những tội nhân bị phát vãng lưu đày đều bị thích lên má hoặc lên trán mấy chữ “tội”, “phạm” hoặc “tù”. Tại châu Âu thời Trung cổ, phụ nữ ngoại tình thường bị giới quý tộc bắt buộc xăm một bông hoa huệ lên vai trái, xem đó như một dấu ấn của sự ô nhục. Tại Nhật Bản, những hình xăm kín khắp thân mình cùng với những ngón tay cụt đốt là dấu hiệu đặc trưng của giới Yakuza, những tên tội phạm chuyên nghiệp.
Mỗi hình xăm hay vết thích đều mang một ý nghĩa nhất định biểu thị ý chí hoặc ước nguyện của người mang nó. Hào khí Đông A luôn được nhắc đến với dòng chữ “Sát Thát” khắc trên vai những chiến binh thời Trần. Ở miền Trung Việt Nam, cách đây chỉ vài ba thập kỷ, dấu thập thích trên trán những bé trai vẫn phổ biến như một dấu hiệu chỉ những đứa trẻ khó nuôi, thuộc loại “con cầu tự”. Còn nếu hình xăm trên vai là một chiếc quan tài với ba ngọn nến, chắc chắn người mang nó phải là một anh lính Việt Nam Cộng hòa bị bắt quân dịch, luôn nhìn tương lai với đôi mắt mịt mờ, vô định và nơm nớp lo mạng sống không biết sẽ bị tước đoạt lúc nào.
Là một thực tại folklore (văn hóa dân gian), những hình xăm biến mất dần khi ý thức xã hội tiến dần về phía văn minh. Ngày nay, hình xăm đã trở thành một thứ dấu vết chứng tỏ sự non kém, thiếu văn hóa, may ra chỉ còn những kẻ học đòi hay giới giang hồ là vẫn còn duy trì và ưa chuộng. Lẽ tất nhiên, có rất nhiều người xăm mình nhưng vẫn không liên quan gì đến giới giang hồ, nhưng đã là người của giới này thì hình xăm hầu như vẫn là một thứ không thể thiếu.
Đám đầu bò đầu bướu quen càn quấy thời nào cũng khoái hai thứ: hoặc đầu cọp nhe nanh hoặc đại bàng dang cánh. Hai hình xăm này ám chỉ một sự phô trương sức mạnh hoặc khao khát trở thành chúa tể trong một thế giới đầy rẫy sự bon chen, lừa lọc. Mấy thằng oắt con chán đời mới tập tễnh “dân chơi” thì khoái xăm trái tim bị mũi tên xuyên thủng – chỉ một mối thất tình, hay một cánh buồm lẻ loi, ngầm ý oán cuộc đời vô định. Dưới những hình xăm này, chúng thường thích kèm một vài câu khẩu hiệu sặc mùi rẻ tiền như “hận đời đen bạc”, “đời là bể khổ, tình là dây oan” v.v... Dân “ken” vài thập niên trước tỏ ra lém lỉnh hơn, thường trổ kèm dưới hình cái ống chích dòng chữ “tôi yêu cô y tá”! Quái dị hơn, cả chữ lẫn hình đều được xăm ở nơi “không vén quần là không thể thấy”!
Với giang hồ thứ thiệt, nhất là với những kẻ từng vào tù ra khám nhiều lần, hình xăm đích thị là một thứ dấu hiệu để nhận biết xuất xứ và đẳng cấp. Chiếc tàu có ba cánh buồm là của những kẻ từng ngồi trại Đồng Phú, con hổ vờn là “khách” của trại Bố Lá, cái mỏ neo là kẻ đã từng đậu ở “bến” Chí Hòa, con Kỳ Lân là kẻ từng dạo gót ở trại Đồng Hòa, K6 – Tống Lê Chân... Giang hồ gốc miền
Cũng xuất phát từ những trại tù, các loại hình xăm mang ý nghĩa phân phong đẳng cấp đã xuất hiện. Tù tứ cố vô thân, bị xếp vào loại “âm binh mất ma”, xuất thân từ cô nhi viện nên chẳng khi nào có giỏ thăm nuôi được xăm hoa hồng trên vai trái. Trong giới giang hồ, bông hồng là hình xăm có vị trí thấp nhất, đồng thời nó cũng là vết rạch đau đớn bộc lộ một ý thức luôn thiếu thốn và khao khát tình thương.
Cũng vị trí đó, nhưng những tên phạm tội giết người hay đám sát thủ chuyên đâm thuê chém mướn, hình xăm sẽ là một chữ “binh” viết bằng chữ Hán. Trong bàn cờ tướng, cùng với chữ “tốt”, chữ “binh” cũng được gọi là chốt, nghĩa là loại chỉ biết “thí mạng cùi”, chỉ đâu đánh đó, đã “qua sông” (dấn thân vào giang hồ) là chỉ thẳng tiến, không bao giờ biết (hay được phép) quay trở lại. Hầu hết những kẻ được thích chữ “binh” tính khí đều hung dữ, liều mạng. Loại này được dân giang hồ đánh giá cao về “phẩm chất tội phạm” nhưng lại không được coi trọng về vai vế, trước sau cũng chỉ là những kẻ tay sai.
Đẳng cấp cao nhất trong giang hồ là một thiểu số những kẻ trên bả vai trái có thích chữ “nhẫn” - trên bộ “đao”, dưới bộ “tâm”, diễn nôm là sự mạnh mẽ, nguy hiểm giấu trong tấm lòng. Kẻ mang chữ “nhẫn”, ngoài đời phải là một đàn anh khét tiếng, giàu “chiến tích” bất hảo, đàn em đông đảo và có ân có uy, được giang hồ thừa nhận. Y cũng phải là kẻ vào tù ra khám không chỉ một lần, án dài và nặng, thường là gây án mạng vì “thanh lý môn hộ” (trừng phạt đàn em cùng băng) hoặc gây án do “chiến tranh băng đảng” trong những cuộc chiến tranh giành lãnh địa. Những kẻ trộm cắp hay nghiện ngập không bao giờ được nâng lên đẳng cấp này. Vào tù, đám này vẫn ăn trên ngồi trốc, ăn miếng ngon nhất, nằm chỗ tốt nhất, tối ngủ phải có đàn em đấm lưng, mùa nóng phải có đàn em thay phiên hầu quạt thâu đêm. Mọi nghĩa vụ trong buồng giam, chúng không mó tay làm bất cứ việc gì, chỉ tay năm ngón và sai phái những tên “dưới chiếu”. --PageBreak--
Ẩn sâu trong một hình xăm mang tính ước lệ đẳng cấp còn có cả một chút màu sắc triết lý. Đó chính là câu lạc khoản cho chữ “nhẫn” viết dưới dạng đại tự: “Nhẫn nhất thời phong bình lãng tĩnh”, nghĩa là: “nhịn nhục một lần (thì có thể) gió yên sóng lặng”, triết lý trung dung nhất của bậc cao nhân trong cách xử thế. Hoặc giả cao siêu hơn nữa, đó là chữ “nhẫn” trong lời Thánh Khổng Tử: “Nhẫn vi nhàn” (nhịn nhục thì yên thân)! Minh triết của bậc thánh hiền đã bị những thằng đầu trâu mặt ngựa trộm cắp để biến thành “cảnh giới tối thượng” của lối sống giang hồ, một lối sống tự thân nó đã sặc mùi bạo lực và đẫm màu sắc tội ác. Ai bảo giang hồ chỉ là một tập hợp toàn những tên vô học? Té ra, cũng có lúc đám giang hồ tỏ ra “thâm nho” ra phết!
Theo hiểu biết mà chúng tôi không đoán chắc là đầy đủ, từ trước đến nay, trên toàn miền Nam chỉ có 4 tay giang hồ được quyền mang chữ “nhẫn”. Một trong số này là một tướng cướp chuyên ăn bay hàng PX (hàng quân tiếp vụ của Mỹ), đã bị quân cảnh Mỹ bắn hạ trên xa lộ Đại Hàn từ trước năm 1975. Tên thứ hai sau năm 1975 hoàn toàn mất tích, không ai biết còn sống hay đã chết. Kẻ thứ ba là Ba H, hiện nay là Việt kiều định cư tại
Ba H năm nay tuổi xấp xỉ 70. Ông ta chỉ rời hẳn khỏi Việt
Người thứ tư là một nhân vật từ năm 1975 đến nay đã ba lần ngồi tù với tổng cộng hơn 20 năm, đi qua hơn chục trại giam trên cả nước, hiện vẫn đang sinh sống tại Tp.HCM. Lần cuối cùng, anh ta lĩnh án 7 năm tù vì tội tàng trữ vũ khí quân dụng trái phép, được tha tù trong đợt đặc xá đầu tháng 9/2002. Thụ án tại trại giam Tiền Giang, chữ “nhẫn” thích trên vai anh ta đã bị bắt buộc phải phá, để lại một vết sẹo lồi to tướng!
Xăm mình thích chữ hầu hết đều được thực hiện chui tại các cơ sở dịch vụ không hề đăng ký. Đầu tiên, hình mẫu, hoặc bất cứ hình thù nào khách muốn xăm được thợ xăm vẽ bằng bút chì lên cơ thể khách hàng. Kim xăm truyền thống có hai loại: một kim đơn quấn chỉ dùng để xăm tạo hình. Xăm đến đâu, máu rịn ra đến đấy. Người thợ xăm tay cầm sẵn một cục bông gòn, cứ thế thấm máu cho khách hàng. Gây tê còn có thể có nhưng vô trùng, khử trùng thì chẳng ma nào thèm để ý.
Hình cơ bản tạo xong, tới lượt những kim quấn ba, quấn tư được sử dụng để thực hiện công đoạn đánh vảy hoặc thêm màu tối. Tới công đoạn này, mảng da thịt có hình xăm sẽ gần như nát bấy và nhòe nhoẹt máu, thậm chí nhiều mảng da mật độ xăm quá dày, như xăm vảy rồng chẳng hạn, mảng da sẽ tấy lên, mọng nước, nước mô lẫn máu chảy liên tục.
Một số dịch vụ sử dụng máy xăm, vết thương còn đỡ nguy hiểm và bớt nguy cơ nhiễm trùng. Còn ở nơi dịch vụ thô sơ nhất, thậm chí người ta còn dùng cả lưỡi lam để tạo hình thay cho kim xăm, vết thương sau xăm có thể khiến khách hàng bị sốt do viêm quật ngã ngay. Thế nhưng, ngay sau khi vừa chùi máu, vết thương còn ướt, công đoạn bôi mực đã phải tiến hành ngay, vì để lâu, đường nét bị khô, mực xăm sẽ ăn vào da thịt không đều, hình xăm sẽ hỏng.
Thông thường mực xăm là mực tàu, hình xăm có màu xanh đen. Để hình xăm đạt độ sắc nét hơn, những tay thợ xăm chuyên nghiệp thường sử dụng một loại mực tự chế gồm muội than đốt từ dép cao su trộn với một lượng nhỏ kem đánh răng. Với mực này, hình xăm sẽ lên nước bóng đen, đẹp hơn hẳn, nhưng nguy cơ nhiễm trùng chắc chắn cũng cao hơn hẳn. Muốn có màu đỏ cho cánh hoa hay mắt rắn cũng không khó gì. Chỉ cần vào tiệm thuốc bắc mua một ít chu sa về pha vào rượu trắng là xong. Tất nhiên đó chỉ là hình xăm thông thường.
Tuyệt kỹ của nghề xăm được giới giang hồ tại Tp HCM ưa chuộng là hình xăm bằng... sữa người nuôi con so. Những tay anh chị cộm cán nhất thường sử dụng loại mực này để xăm hoặc đầu cọp nhe nanh, hoặc hình ông Phật ngay trước ngực. Bình thường, những hình xăm này lặn, không thể nhìn thấy. Chỉ khi uống rượu hay bị đánh đau, những hình xăm này mới tấy đỏ lên, trông rất dữ tợn!
Kỹ thuật xăm sữa này là bí kíp của môt thầy xăm tên Cải ở khu vực Cống Bà Xếp, quận 3, tồn tại từ trước giải phóng. Tất cả những hình xăm của nhóm “Tứ đại thiên vương” lừng danh trước thập niên 70 (gồm Đại
Sau Cải, hàng đại gia nghề xăm lậu phải kể đến ba nhân vật là An “đầu bò”, Minh “vẽ” và Hoàng “dơi”. Những biệt danh gắn sau tên của họ chính là ngón sở trường độc đáo của từng người. Khách hàng của những cao thủ này phải tính đến hàng ngàn, hàng vạn. Đáng nói là đám này hành nghề kiểu đại trà nên giá rẻ không ngờ. Một con đại bàng, mất vài tiếng đồng hồ thực hiện, giá chỉ vài trăm ngàn đồng. Cả một con rắn, phải nói là mãng xà mới đúng quấn khắp thân người, giá cũng không quá 500.000 đồng. Có xăm cầu kỳ mấy giá cũng không vượt khung 1 triệu đồng.
Ngoài đám khách thường trực là mấy thằng oắt con mới nứt mắt đã bỏ nhà đi bụi và tập tễnh giang hồ, những hảo thủ nghề này còn thường xuyên được “phục vụ" một nguồn khách sộp khác là các em cave, gái bán hoa, trong đó có không ít cô có mác người mẫu, ca sĩ. Những khách hàng này chuộng hình thức xăm máy, xăm hình dơi quạ bí hiểm hoặc hoa lá, bướm ong loè loẹt nhiều màu quấn quanh eo, đậu quanh rốn hoặc cách rốn độ... một gang!
Giá xăm mình, giang hồ không tính đắt, nhưng những kẻ học đòi chớ lấy vậy làm mừng. Bởi lẽ, trước hay sau, dân giang hồ cũng sẽ phải đối diện “cái sự chán” những hình xăm từng được họ tự hào là “không đụng hàng”. Đó là khi họ muốn đoạn tuyệt quá khứ tội lỗi, sai lầm; là lúc những thằng nhóc con đã trưởng thành, muốn lập gia đình nhưng không muốn bạn đời của mình phải thét lên kinh hãi trong đêm hoa chúc vì lầm tưởng mình đang ôm phải một bao tải rắn.
Muốn phá ư? Rất nhiều thẩm mỹ viện có dịch vụ phá hình xăm bằng tia lade. Chỉ khoảng 5 triệu đồng cho một cánh bướm đậu trên vai, khi xăm chỉ tốn 100.000 đồng. Kỷ lục phá xăm thuộc về một tay anh chị tên là Sơn “chùa”, một trùm bến khu vực Lê Lai, quận 1. Để tẩy hết những hình xăm phủ gần như khắp thân mình, Sơn “chùa” phải đốt hết hơn 60 triệu đồng để sau đó sở hữu một tấm thân đầy... thẹo!
Nếu muốn ít tốn tiền hơn, giang hồ cũng có cách, chỉ e phá hình xăm kiểu này, thay vì mất tiền, người ta sẽ mất... mạng. Đầu tôm để thối, hoặc vôi bột, hoặc mủ xương rồng được đắp lên vết xăm, bó chặt lại. Những thứ này sẽ ăn sâu vào da thịt, phá bay các hình xăm. Nếu không mất mạng vì nhiễm trùng, vì nhiễm HIV hay các bệnh lây lan khác, gần như chắc chắn kết quả sau cùng thân chủ sẽ hóa thành khổ chủ, với một tấm thân nổi vằn nổi vện, đầy u cục như gốc cổ thụ
