Giải mã về nơi an táng của “Hùm xám Yên Thế” (Phần 2)

Thứ Tư, 08/11/2006, 07:49

“Nếu xét trong bản thân văn bản, con chữ, hay chất liệu giấy bản này, lá thư yểm hoàn toàn có thể được viết đúng trong thời gian đề từ (năm 1913)”, ông Nguyễn Tá Nhí, chuyên gia Hán Nôm ở Việt Nam, giải thích về độ tin cậy của “lá thư sấm ký” liên quan đến cái chết của "Hùm xám Yên Thế", yểm dưới một ngôi mộ mới tìm thấy ở Bắc Giang.

Chuyên gia hàng đầu về Hán Nôm ở Việt Nam, ông Nguyễn Tá Nhí, phất phơ đầu bạc dùng kính lúp cùng Thạc sĩ Nguyễn Xuân Diện ngồi tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm “lục vấn” từng chữ trong văn bản yểm gần mộ mà chúng tôi trưng ra. Cụ Nhí rất rành rọt: về văn bản, có người tỏ ra nghi ngờ lối viết, hay cách đề ngày tháng năm dưới văn bản (có vẻ quá hiện đại) - như nhà báo nói - thì tôi nghĩ, sự nghi ngờ đó là không có cơ sở. Vì, năm 1913, thậm chí có thể từ trước đó, lối viết này đã phổ biến. Tức là, nếu xét trong bản thân văn bản, con chữ, hay chất liệu giấy bản này, “lá thư yểm” hoàn toàn có thể được viết đúng trong thời gian “đề từ” (năm 1913).

Vì là văn bản chữ Nôm, nên phiên âm rất phức tạp. Nhiều người không thể đọc được, dịch thoát ý được, hay là chê ông Lý Loan viết thơ vụng... cũng là hợp lý. Vì phân tích ra, câu đầu: “Cờ nghĩa bao năm lanh lẹ (hoặc nhanh nhẹ) vần/ Hậu thế ngàn năm ai biết không”. Đến câu thứ ba: “Yên Ngựa ngờ (ghi, nghi) vào nơi lòng đất” (gò Yên Ngựa, ý nói, thi hài ông Đề Thám, hoặc ai đó mang linh hồn của cuộc khởi nghĩa Yên Thế (?) được táng ở gò Yên Ngựa). Câu thứ tư: “Thế sự (của cụ) Hoàng Hoa (Thám) ai dẫu (thấu) chăng?”.

Cụ Tá Nhí rất sòng phẳng: "Tôi biết đến đâu, tâu đến đấy. Về mặt văn bản, chúng tôi nói thế. Còn văn bản này có ý nghĩa thế nào trong việc tìm mộ, hay kết luận về cái chết của nhân vật lịch sử Đề Thám, thì các ông đi hỏi cụ Trần Quốc Vượng (đã mất) hay đem di cốt ở ngôi mộ ông kể xuống Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an mà giám định".

Qua trao đổi của chúng tôi với Chủ tịch UBND xã Mai Trung, cán bộ Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, một số đại diện con cháu cụ Đề Thám... chúng tôi cũng ghi nhận ý kiến nghi ngờ về sự “trường tồn” của một tờ giấy bản (94 năm trời) ở dưới lòng đất, cũng như nhiều chi tiết thiếu “tường minh” khác.

“Có điều gò mộ kia có phải là gò mộ cụ Đề Thám không thì còn phải xem xét cẩn thận và văn bản kia có thật từ năm 1913 không cũng phải xem xét cẩn thận” - trích thông báo của Phó Giám đốc Bảo tàng Bắc Giang về sự kiện kể trên.

Khi cán bộ tỉnh Bắc Giang liên lạc với bà Hải, người nhà cụ Đề Thám ở Hà Nội, thì bà vừa tròn... dịp 49 ngày tạ thế. Các cháu của cụ Hải có lên Bắc Giang tìm hiểu, nhưng, theo ông Trịnh Hữu Xuyến, một đại tá về hưu, chồng bà Hải, thì gia đình cũng thấy có nhiều điểm chưa tỏ tường lắm.

“Trước đây, bà nhà tôi có đi tìm mộ cụ Đề Thám ở khắp Nhã Nam, Chùa Lèo, Hiệp Hòa, nhưng không thấy. Vả lại, đã một thế kỷ trôi qua...”. Chúng tôi nghĩ rằng, việc trước nay tìm không thấy (mộ cụ Thám), thì điều đó không có nghĩa rằng bây giờ không thể thấy nữa. Còn nhiều ý kiến cho rằng, một thế kỷ trôi qua rồi, tờ giấy bản không thể tồn tại được, thì đó là “sự nghi ngờ” thiếu khoa học. Bởi, gia phả, sắc phong người ta để trong hộc bàn, có thể cả mấy trăm năm, chữ bé li ti cũng vẫn đọc tốt.

Chuyên gia Hán Nôm ở Viện Hán Nôm xác nhận: giấy bản, chữ viết mực nho từ thế kỷ XVIII (cách đây 300 năm), đến nay vẫn đọc tốt (đằng này, lá thư, nếu đúng là của cụ Lý Loan, mới từ đầu thế kỷ XX đến giờ thì giấy chưa mục, chữ còn rõ là điều bình thường). Vậy là, ý kiến nghi ngờ về sức sống của văn bản Hán Nôm trên, tôi cho rằng thiếu thuyết phục.

Điều dễ thấy, bao trùm lên tâm trạng của những cán bộ địa phương biết sự việc này, là mong muốn được giải mã những bí ẩn của “lá thư yểm vào dưới mộ”. Cơ quan chức năng tỉnh Bắc Giang cũng đã nóng lòng “giục” lực lượng chuyên ngành sớm đưa ra kết luận.

Tôi cho rằng, cơ sở quan trọng gây dấu hỏi chưa giải mã được mà bài viết này đang xới lên, có lẽ là cái chết quá bí ẩn của “hùm thiêng Đề Thám”. Vì chưa ai rõ, lịch sử (chính sử) cũng còn chưa giải mã được: thật ra cụ bị sát hại thế nào, càng chưa ai biết phần mộ cụ ở đâu, cho nên các “giả thuyết” vẫn còn được đặt ra. Giả thử, mai này ta kết luận phần mộ cụ Đề Thám nằm ở Mai Trung, với “kim chỉ nam” là lá thư “yểm” trong lòng đất kia, thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

Bởi lịch sử ghi rõ: Hoàng Hoa Thám quê ở Tiên Lữ, Hưng Yên, 16 tuổi tham gia cuộc khởi nghĩa của Đại Trận (1870-1875). Gần 30 năm trời, nghĩa quân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy đã làm cho giặc Pháp kinh hồn bạt vía. Chúng treo thưởng 30.000 frăng cho kẻ nào “lấy được đầu Đề Thám”. Các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh... đã gặp gỡ Đề Thám để mưu toan nghiệp lớn. “Hùm xám” vùng Yên Thế, người đã khiến cho cả Thống sứ Bắc Kỳ, các viên công sứ vùng thượng du Bắc Bộ phải “lo sợ tới bạc đầu”.

Sau khi lên tận núi rừng Yên Thế hiểm trở thăm Đề Thám, với hào lũy, cơ nghiệp hùng mạnh một cõi, cụ Phan Bội Châu đã suy tôn ông là vị tướng quân chân chính (“Chân tướng quân”). Khi bị sát hại, Đề Thám mới 55 tuổi. Nguyên nhân là do Pháp cay cú huy động một lực lượng khổng lồ với 15.000 quân viễn chinh, lính khố xanh cùng 400 lính dõng tấn công nghĩa quân Yên Thế, làm nghĩa quân bị tổn thất nặng nề.

Thứ nữa là có kẻ làm phản, chỉ điểm cho “sát thủ” trá hàng ám hại Đề Thám. Ông bị mắc mưu ba tên đồng đảng của Lương Tam Kỳ. Chúng “trá hàng” với lời hứa sẽ bày cho nghĩa quân cách chế tạo... bom tấn.

Tại một ngôi lều chạy loạn ở khu vực Hố Nấy, chúng chuốc rượu say rồi giết Đề Thám cùng 2 thuộc hạ thân tín của ông. Chúng mang đầu 3 ông ra Nhã Nam giao nộp cho giặc Pháp. Đó là ngày 10/2/1913 dương lịch. Thủ cấp của Đề Thám cùng thuộc hạ bị giặc bêu ở cả Nhã Nam, Bắc Ninh để thị uy dân chúng. (Ông Phó Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bắc Giang cho biết: tài liệu của sử gia Đinh Xuân Lâm tìm được bên Pháp, rất thuyết phục. Đó là bản khẩu cung của 3 tên “giặc cỏ” đã giết chết người anh hùng Đề Thám, với nội dung tương tự).

Hiện, ở khu vực Hố Nấy, vẫn có một ngôi mộ nghi là của cụ Đề Thám. Nhưng nhiều bà con cho rằng, ngay cả cái thủ cấp đem “bêu” cũng không phải là của Đề Thám. Lý do là khi giặc Pháp yêu cầu nhận dạng, nhiều người bị ép cung, bị tra tấn ghê quá mới nói bừa là của Đề Thám, song thực tế không phải. Ông đã kịp “biến mất trong rừng” (rồi chết ở Mai Trung?). “Sau này, bà Hải, người giúp việc của bà Hoàng Thị Thế, con gái cụ Đề có thuê các nhà ngoại cảm đi tìm mộ “Hùm xám Yên Thế”, nhưng không thấy” (theo báo Lao Động, năm 2005).

Chúng ta, lớp hậu thế, không có quyền phủ nhận giá trị như một lời sấm ký nói về nơi chôn cất, mối quan hệ, sự tích gò đồi, ao chuôm liên quan đến cụ Đề Thám và nghĩa quân Yên Thế ở Mai Trung (nếu văn bản kia đã thực sự được viết và yểm dưới đất từ năm 1913). Chúng ta, không một ai không mong muốn những giả thuyết về cái chết của Đề Thám mà bài viết này đang bàn sẽ được khoa học chứng minh rành mạch rằng, đó là sự thật lịch sử.

Tuy nhiên, chúng ta cũng chưa nên kết luận vội vàng một điều gì. Không phải vô lý mà một số nhà khoa học nghiêm túc đã tỏ ý thắc mắc về những sự trùng khít quá đáng của câu chuyện kéo dài gần một thế kỷ kể trên (?!). Cuối cùng, việc giám định “tài liệu” để tìm đến chân vấn đề cũng không có gì là quá khó khăn: ngôi mộ còn xương cốt, văn bản Hán Nôm bằng giấy bản đã được bảo tàng niêm phong trong kho bảo quản chuyên ngành. Mong các nhà khoa học sớm vào cuộc

Đỗ Doãn
.
.
.