Đi tìm người đánh kho bom đạn Phước Lý ngày ấy…
Dò hỏi mãi cuối cùng tôi cũng gặp được nguyên Đại tá Nguyễn Ngọc Phỉ, Trưởng ban Liên lạc Biệt động thành Đà Nẵng, người biết rõ chuyện về vụ đánh phá kho bom, đạn Phước Lý của địch.
Ông Phỉ mở tủ lục tìm, mang ra một tập tài liệu, lật lấy trong đó một tờ giấy đánh máy đã ố vàng đưa cho tôi. Thì ra, đây là Quyết định của Ủy ban Mặt trận giải phóng miền Trung Trung Bộ tặng thưởng Huân chương Giải phóng hạng Nhất cho cơ sở binh vận quận nhì Đà Nẵng đã có thành tích đánh cháy kho bom, đạn Phước Lý vào ngày 27/4/1969.
Trong Quyết định số 3702/QĐ/KT ngày 15/6/1969 cũng ghi rõ, tổ công tác đánh phá kho bom đạn Phước Lý có ba người: Bà Trần Thị Khá (tức Kham), ở thôn 2, xã Điện Ngọc, Điện Bàn, Quảng Nam, có thành tích vận chuyển vũ khí; ông Nguyễn Hữu Hạnh, quê ở Điện Nam, Điện Bàn, Quảng Nam, bí số C.69 có thành tích tấn công kho bom đạn Phước Lý và ông Đặng Công Phu, cán bộ nội tuyến, phụ trách cơ sở đánh kho bom đạn Phước Lý.
Ông Phỉ bảo: "Quyết định rõ ràng như vậy, song chỉ có mẹ Kham và đồng chí Đặng Công Phu được nhận Huân chương, còn ông Hạnh người ta lại nghi ngờ này nọ, rồi lãng quên. Mãi cho tới năm 2001, sau khi tui thu thập đầy đủ tài liệu, đi gõ cửa chính quyền cùng các cơ quan liên quan của TP Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam, ông Hạnh mới được nhận Huân chương…".
Tôi lái xe máy chở ông Phỉ ngồi sau chỉ đường đến nhà ông Hạnh. Căn nhà nhỏ nằm sâu trong một con hẻm trên đường Hoàng Diệu, thuộc tổ 19, phường Bình Thuận, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Thấy ông Phỉ đến thăm, ông Hạnh nằm trên giường, ánh mắt ánh lên niềm vui sướng vô hạn. Ông Hạnh thều thào bảo anh con trai đỡ lên xe lăn để ra ngồi nói chuyện.
Hỏi ra mới biết, năm 1990, ông Hạnh đột ngột bị tai biến mạch máu não "bán thân bất toại", gia đình dốc hết tiền của dành dụm mới giữ lại mạng sống. Nhưng kể từ đó, ông Hạnh nằm liệt một chỗ, mọi chuyện ăn uống, vệ sinh cá nhân chỉ còn biết cây nhờ vào người vợ hiền và những đứa con hiếu thảo.
Nguyên nhân của căn bệnh quái ác kia cũng là do di chứng những trận đòn tra tấn dã man của giặc trong những năm tháng ông Hạnh bị tù đày ở Côn Đảo. Một phần còn do những u uất khi chiến công đánh phá kho bom đạn Phước Lý bị một số người nghi ngờ, phủ nhận.
Họ nghi ngờ cũng có lý do. Bởi vì, cách mạng miền
Từ ngày nhận được tấm Huân chương Giải phóng hạng Nhất về thành tích đánh phá kho bom, đạn Phước Lý, ông Hạnh như được uống thuốc bổ, sức khỏe dần hồi phục và khá lên... Và, câu chuyện đánh phá kho bom, đạn Phước Lý được ông Hạnh kể lại như một huyền thoại…
Kho bom, đạn Phước Lý được Mỹ - ngụy xây dựng thuộc loại qui mô lớn của Vùng I, Vùng II chiến thuật và miền Trung nói chung. Kho có chiều dài trên 2.000m, ở về phía nam cao điểm 627 Phước Tường, nằm dọc hai bên đường từ ngã ba Túy Loan đi Nghi An, về giáp QL1A.
Kho có nhiều khu, phân thành nhiều lô có những bờ đất cao 2m ngăn cách. Về phía Tây khu kho có bồn chứa xăng và hàng trăm phuy xăng, sử dụng cấp cho các sân bay của Quân đoàn I... Mỹ - ngụy bố trí một hệ thống lô cốt dày đặc canh giữ kho. Ngoài những vọng lâu cao 20m để quan sát từ xa, những lô cốt nửa chìm, nửa nổi thì cứ chừng100m có một lô cốt lộ thiên…
Ông Hạnh công tác ở tiểu đoàn vận tải thuộc Quân khu I, phụ trách một đoàn xe từ 10 đến 15 chiếc GMC và 1 chiếc Dodge thường xuyên đi nhận vũ khí đạn dược tại kho bom đạn Phước Lý.
Từ năm 1966, mẹ Kham và ông Đặng Công Phu là những người hoạt động trong lực lượng công tác binh địch vận nội thành Đà Nẵng, đã tiếp cận vận động ông Hạnh, giác ngộ ông trở thành cơ sở nội tuyến của ta, mang bí số C69.
Sau khi trở thành "người mình", mỗi tuần đến kho bom đạn Phước Lý nhận vũ khí, đạn dược, ông Hạnh quan sát, ghi nhận mọi di biến động của địch tại kho bom đạn này báo cáo về cơ quan binh địch vận Đà Nẵng, thông qua mẹ Kham, hoặc đồng chí Đặng Công Phu, để chuyển lên cấp trên...
Cuối năm 1968, chỉ huy lực lượng binh địch vận Đà Nẵng lúc bấy giờ là đồng chí Trần Vinh Quốc, đã cùng một số đồng chí lãnh đạo của quận 1, Đà Nẵng, họp bàn ở căn cứ xã Điện An (Điện Bàn, Quảng Nam), hạ quyết tâm đánh "cái dạ dày" của bọn Mỹ - ngụy ở Vùng I chiến thuật - kho bom đạn Phước Lý, nhằm mục đích đẩy mạnh phương châm 3 mũi giáp công, từng bước đánh bại kế hoạch bình định của chúng.
Đến tháng 2/1969, mẹ Kham và đồng chí Đặng Công Phu mới quyết định mời ông Hạnh về nhà một cơ sở cách mạng tại Hòa Hải (nay là phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn).
Cuộc họp mặt bí mật ngày đó chỉ có ba người: Mẹ Kham, đồng chí Đặng Công Phu và ông Hạnh. Sau khi truyền đạt mệnh lệnh cấp trên, phải bằng mọi giá phá hủy kho bom đạn Phước Lý; cả ba người bàn bạc kế hoạch và thống nhất cách đánh là dùng thuốc nổ C4 và kíp nổ hẹn giờ.
Ông Hạnh ứa nước mắt hứa rằng: "Tui dù có gia đình, vợ con; nhưng không vì thế mà sợ bị địch bắt, hay hy sinh, để rồi phản bội lại anh em đồng chí, phản bội cách mạng. Các đồng chí hãy tin tưởng tuyệt đối vào sự trung thành của tui với cách mạng. Tui tin trận đánh này sẽ thành công". Theo mật lệnh, ông Hạnh lái chiếc Vespa lên ngã ba Huế, đến điểm hẹn để gặp mẹ Kham "nhận hàng".
Lúc 13h3' ngày 26/4/1969, tại điểm hẹn X, mẹ Kham chuyển từ căn cứ cách mạng ở Điện Bàn ra, giao cho ông Hạnh 2 kíp nổ chậm và 5kg thuốc nổ C4. Ông Hạnh nhận số chất nổ ấy cho vào thùng xe Vespa, ung dung chạy về nhà.
Tại nhà, ông nhồi thuốc nổ vào liều đạn pháo 105 ly và gắn kíp nổ. Sáng hôm sau, ông cho liều đạn đã gắn kíp nổ vào thùng xe Vespa chạy đến đơn vị và bí mật đưa lên cất giấu ở thùng chiếc xe Dodge mà ông lái dẫn đoàn xe GMC đến kho Phước Lý nhận số đạn dược bổ sung.
Cũng vào thời điểm tờ mờ sáng 27/4/1969, mẹ Kham cùng đồng chí Đặng Công Phu và chị Mai (vợ đồng chí Đặng Công Phu) đã "ém" tại một quán nước ở ngã ba Hòa Cầm để theo dõi từng bước đi của đoàn xe ông Hạnh. Đến khoảng 8h sáng, đoàn xe của ông Hạnh từ kho bom đạn Phước Lý quay ra và ông ra hiệu cho mẹ Kham cùng vợ chồng đồng chí Đặng Công Phu biết đã đặt mìn xong. Ba người lập tức rời quán nước về lại căn cứ cách mạng...
Thời gian trôi qua thật chậm chạp và nặng nề trong sự chờ đợi, hồi hộp của ông Hạnh. Hẳn lúc này đây, mẹ Kham và vợ chồng đồng chí Đặng Công Phu, cùng các đồng chí lãnh đạo ở căn cứ chỉ huy trận đánh cũng có chung tâm trạng như vậy.
Một tiếng đồng hồ trôi qua... Bỗng một tiếng nổ rền vang làm rung chuyển cả đô thị Đà Nẵng và tiếp theo đó là những tiếng nổ dây chuyền không ngớt dậy lên từ kho bom đạn Phước Lý.
Ông Hạnh lặng người đi vì sung sướng đã hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó. Vụ nổ kéo dài sang cả ngày 28/4/1969, làm cho Mỹ - ngụy vô cùng hoang mang, lo sợ. Chúng không thể hiểu được vì sao đã bố phòng nghiêm ngặt, canh giữ đến con kiến khó chui lọt, vậy mà kho bom đạn Phước Lý vẫn bị Việt Cộng lọt vào đánh tan tành.
Kết quả trận đánh phá hủy hoàn toàn trên 69.000 tấn bom, đạn và vũ khí; làm cháy trụi kho xăng 50 triệu lít cùng 40 xe quân sự, chết hơn 600 lính Mỹ, gồm tiểu đoàn bảo trì, đại đội AMP (quân cảnh Mỹ), cùng hàng trăm tên lính ngụy; hư hỏng 11 chiếc phi cơ đậu tại phi trường Đà Nẵng do mảnh bom, đạn văng trúng…
Ngừng một lúc, ông Hạnh thều thào kể tiếp rằng, sau vụ đánh kho bom đạn Phước Lý, ông vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng với biệt danh C69, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Đặng Công Phu và mẹ Kham.
Đến tháng 12/1971, ông lại nhận mệnh lệnh của cấp trên, dùng lựu đạn tấn công quán ăn của bọn sĩ quan Mỹ trên đường Duy Tân (gần Bộ Chỉ huy Quân khu I). Trận đánh này ông lập công lớn, tiêu diệt trên 100 tên Mỹ.
Đến ngày 16/12/1972, do bị chỉ điểm nên ông Hạnh sa vào tay giặc. Chúng đã bắt ông ngay tại nhà riêng. Tại Ban an ninh quân khu I, ông Hạnh bị tra tấn đến chết đi sống lại, nhưng ông vẫn nhất quyết không khai, vì thế sau đó bọn giặc đã đày ông ra Côn Đảo. Ông được trao trả tại Lộc Ninh đợt 2 và được đưa ra Bắc điều trị thương tật mãi cho tới ngày đất nước thống nhất…
Ngồi trên xe lăn, ông Hạnh run rẩy đưa tay nắm chặt bàn tay ông Phỉ, vừa thở dốc, vừa ngọng nghịu nói: "Tui nhận được Huân chương Giải phóng hạng Nhất cũng là nhờ anh bỏ công lao đi gõ cửa các cơ quan chức năng giúp tui. Anh đã kéo dài tuổi thọ cho tui...".
Người lính già đầu bạc trong chiến tranh đã từng lăn lộn với lực lượng Biệt động thành Đà Nẵng nắm chặt tay người hùng đánh phá kho bom đạn Phước Lý ngày ấy rơm rớm nước mắt, động viên rằng, ông làm việc đó chỉ là trách nhiệm, tình cảm của một người đi qua cuộc chiến khốc liệt may mắn còn sống với đồng đội đã có góp công sức, cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, quê hương…
