“Cuộc tình trong trại” và “ông chủ xưởng tranh"

Chủ Nhật, 24/06/2007, 09:45

Cuối năm 2005 đến đầu 2006, Dũng “K cơ” xây xong căn nhà ở thị xã Sông Công và lập một xưởng làm tranh đá quý. Với số đá giữ từ xưa cùng với một lượng nguyên liệu mua từ Lục Yên, cựu tướng cướp bắt đầu nghề mới. Đó là cơ sở sản xuất tranh đá quý đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên.

Kỳ 4: Từ "đại bàng trại giam" thành phạm nhân xuất sắc

Kỳ 3: Tướng cướp khai sinh nghề xe ôm vùng đá đỏ

Kỳ 2: Tướng cướp Dũng “K cơ" lập "đặc khu” ở vùng vàng

Kỳ 1: Tỷ phú xuất thân tướng cướp

Những ngày tiếp theo trong Trại giam Phú Sơn 4, Dũng “ K cơ" luôn là một điển hình đại diện cho các nam trại viên về tinh thần cải tạo, học tập. Vì thế  Dũng “K cơ” liên tục được đi báo cáo, đi gặp khách thăm trại trong các cuộc hội họp, giới thiệu. Trong cái nỗ lực hoàn lương đáng ghi nhận đó của Dũng, một cơ duyên trời cho đã đến.

Một cuộc tình được coi là đẹp và hiếm có nhất nhì ở trại giam từ trước đến nay đã diễn ra và đó cũng chính là người vợ hiện thời của "tướng cướp": Chị Nguyễn Thị Kim Oanh, SN 1966, người Phú Thọ.

Cô giáo trường chuyên và cuộc tình… sét đánh

Dũng “K cơ” vào Trại Phú Sơn 4 được khoảng hơn 1 năm thì một hôm nghe anh em kể chuyện vừa có một số phạm nhân mới nhập trại, trong đó có cả phạm nhân nữ. Họ còn bàn tán rằng, có một phạm nhân nữ đến trại hôm ấy là cô giáo "trông xinh lắm" và "rất nhân từ", người đã cho họ một số đồ ăn thức uống lúc xuống xe.

Trí tò mò đã thúc đẩy Dũng “K cơ” dứt khoát phải tìm cách để gặp mặt xem cô này như thế nào. Các trại viên mới nói cho Dũng biết tên cô gái ấy là Oanh, nghe đâu là con một cán bộ ngành giáo dục ở tỉnh Phú Thọ.

May mắn là Oanh sau khi nhập trại lại được ở cùng buồng với một phạm nhân nữ tên là Giới, người từ lâu đã nhận Dũng “K cơ” làm anh kết nghĩa. Khi Dũng gặp Giới thì câu chuyện của cô em luôn luôn hướng về Oanh và bảo sẽ giới thiệu hai người với nhau. Không hiểu sau đó Giới "hót" thế nào mà Oanh đã gửi cho Dũng “K cơ” một lá thư làm quen. Dần dần thư đi thư lại giữa hai người ngày một dầy thêm, lên đến hàng gang tay.

Trong quá trình này, Dũng “K cơ” cũng cố công tìm hiểu và biết được Oanh là người có học, ngày đi học cũng từng là học sinh giỏi văn, là sinh viên xuất sắc tốt nghiệp bằng đỏ của trường Đại học Sư phạm Hà Nội II ở Xuân Hòa, Vĩnh Phúc.

Trước khi vào trại, Oanh là một cô giáo dạy giỏi có tiếng ở trường chuyên. Oanh bị dính án "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa" vì ngày đó ở Bắc Giang nơi Oanh công tác có phong trào buôn hàng từ biên giới Lạng Sơn về. Có điều kiện hơn nên Oanh đã dùng tiền của nhà trường cho một số người vay để đi buôn, nhưng họ vỡ nợ nên không trả được tiền. Chuyện vỡ lở, Oanh bị xử 8 năm tù giam và đưa vào Trại Phú Sơn 4…

Thông tin thì vậy nhưng vẫn chưa ai biết mặt ai cả. Theo nguyên tắc, trong trại phạm nhân nam và phạm nhân nữ không được gặp nhau, nhưng Dũng “K cơ” vốn ma mãnh nên đã thiết kế được một cuộc gặp rất chính đáng: Tổ chức việc trao đổi hạt giống trồng cây giữa các phân trại nên vì lý do đó, Dũng “K cơ” đã qua được phân trại nữ và "xem mặt" được cô gái vẫn liên lạc với mình lâu nay qua thư mà không biết mặt.

Nhìn thấy Oanh, Dũng đã bị lưỡi sét ái tình đánh trúng. Tình cảm quý mến từ đó càng tăng thêm. Họ liên tục trao đổi thư tín với nhau. Các lá thư chan chứa tình cảm yêu thương nồng nàn và lời hứa cùng nhau phấn đấu cải tạo tốt để mong ngày ra tù sẽ tổ chức đám cưới, làm lại cuộc đời.

Oanh tham gia làm cô giáo dạy văn hoá cho con em cán bộ trại, tham gia các công tác đoàn thể trong tù, liên tục được đi báo cáo điển hình cải tạo tốt và cũng thường xuyên xuất hiện trên báo chí như một điển hình xuất sắc trong số các phạm nhân nữ ở Trại Phú Sơn 4. Biết được điều này, Dũng “K cơ” vui lắm và càng quyết tâm phấn đấu hơn để sớm được ra ngoài.

Đi xây lại cơ đồ… với 15.000 đồng "lận lưng"!

Năm 2000, niềm vui đến với Dũng “K cơ” khi trong đợt đặc xá ra tù dịp kỷ niệm Chiến thắng 30-4, cả Oanh và Dũng đều được tha tù trước thời hạn. Dũng “K cơ” bị án 11 năm nhưng được xét giảm án tới 5 năm, còn Oanh bị án 8 năm nhưng đã được xét giảm án sớm hơn 4 năm.

Ngày đặc xá, Oanh còn được vinh dự phát biểu trên Đài Tiếng nói Việt Nam về niềm vui được trở về. Ngày  được về với cuộc sống tự do thật vui không tả xiết, nhưng cả Dũng và Oanh đều hiểu rằng phía trước là một cuộc sống với nhiều chông gai, thách thức đang chờ.

Ngày vui đã không trọn bởi khi vừa ra khỏi cổng trại Phú Sơn 4 thì chuyện tình cảm của Dũng và Oanh đã bị ngăn cấm. Gia đình Oanh khi biết Oanh yêu Dũng “K cơ”, một trùm giang hồ cộm cán đã ngăn cấm kịch liệt. Vậy nên ra tới cổng thì Oanh bị một người chị gái lôi ngay lên xe chở tuốt về Phú Thọ.

Hụt hẫng, đau đớn, Dũng “K cơ” lẽo đẽo bắt xe theo sau tiễn Oanh về đến nhà rồi lặng lẽ quay về nhà mình. Trước khi chia tay, Dũng “K cơ” chỉ nói một câu rằng: Không có em, có lẽ rồi anh lại quay lại với… giang hồ!

Khi Dũng “K cơ” về nhà, cả nhà mừng lắm, mở tiệc ăn mừng suốt mấy ngày. Đến ngày thứ hai, khi cuộc vui đang rộ thì ngoài cổng có một chiếc xe ôm chạy tới và người ngồi sau là Oanh.

Nhìn thấy Oanh ngoài cửa, Dũng “K cơ” hiểu rằng cuộc đời này sẽ gắn bó cùng cô ấy và tình yêu của anh đã có bến đậu. Sau này Dũng “K cơ” mới biết, để đến được với Dũng, Oanh đã nói dối cha mẹ rằng phải đi làm thủ tục nhập khẩu ngoài thị trấn rồi trốn thẳng một mạch về Thái Nguyên luôn với đúng 1 bộ quần áo trên người.

Sau ngày liên hoan ấy, Dũng “K cơ” và Oanh quyết tâm đưa nhau đi tìm nơi làm lại cuộc đời. Lúc này, cả hai chỉ có 4 bàn tay trắng. Nhà Dũng “K cơ” lại nghèo xác xơ, bố mẹ chỉ có 3 gian nhà tranh, vách đất. Vậy nên, miền đá đỏ Lục Yên là nơi đã hiện về trong tâm trí họ.

Gia đình Dũng "K cơ", một doanh nhân thành đạt.

Đem theo Oanh và một người em vợ trước, 2 người thợ và một cậu con trai nữa, Dũng “K cơ” về với Lục Yên sau 6 năm ở tù. Mọi thứ giờ đã thay đổi lắm rồi. Mỏ đá đỏ nổi tiếng một thời giờ hoang tàn như qua cơn bão cạn, cơn lốc hụi, đề, nghiện hút đã cuốn vùng đất sôi động một thời dần đi vào hoang phế.

Trong túi Dũng “K cơ” và Oanh lúc ấy chỉ có 3 triệu đồng do một người bạn tốt bụng cho mượn. Lên đến Lục Yên, thuê một căn nhà nhỏ để ở, mua một cái giường để nằm, một cái xe đạp mini để đi lại, số tiền còn lại là… 15.000 đồng!

Không sao cả, Dũng “K cơ” quyết định hướng dẫn cho Oanh cách đi buôn đá đỏ nhỏ kiếm cơm ngày 3 bữa, còn mình cùng anh em lên núi mua cào cuốc làm thủ công để kiếm đá.

Mọi thứ lúc này thiếu thốn lắm, chẳng có gì cả, đến nước cũng phải đi xin. May có người anh em vốn nể phục Dũng “K cơ” từ trước thương tình cắt cho một mảnh đất nhỏ trên bãi của mình nên dần dần Dũng đã kiếm ăn được.

Khi có thêm chút tiền, Dũng “K cơ” bắt đầu nghĩ đến chuyện liều: Dốc hết vào đi mua máy móc, mua công cụ để làm đá. May mắn đã mỉm cười với Dũng “K cơ” khi gặp được đá. Có ngày họ kiếm được vài triệu đồng. Sau 6 tháng trở lại Lục Yên, đến cuối năm 2000, Dũng “K cơ” đã mở rộng sản xuất, lập thêm được một đội đá làm đường nữa.

Có đồng ra đồng vào, đến đầu năm 2001 Dũng “K cơ” quyết định lập thêm một đội công nhân nữa chuyên làm đá xây dựng. Nhờ cái liều và tầm nhìn xa, lực lượng lao động của Dũng “K cơ” khi đó đã rất mạnh, lên tới trên 70 người.

Ngoài lượng đá đỏ khai thác được đem bán đi, còn một lượng đá khá đẹp khác Dũng “K cơ” đã giữ lại vì thị trường đá quý lúc đó đã bắt đầu chững. Đó cũng chính là tiền đề cho công việc sau này của Dũng và Oanh.

Năm 2003, không hiểu sao hàng đá đỏ dù có làm được cũng không bán được nữa. Bên cạnh nguồn đá bị cạn kiệt thì công việc làm ăn cũng không còn thuận lợi, Dũng “K cơ” bắt đầu nghĩ đến chuyện về quê để làm ăn. Sau mấy năm ở Lục Yên, họ tổ chức đám cưới và cùng về quê sinh sống. Dũng “K cơ” mua mảnh đất 300 triệu đồng ở thị xã Sông Công (Thái Nguyên) và bắt đầu công việc kinh doanh trên một ngôi nhà tạm bợ.

Lại bắt đầu xoay đủ nghề, từ cho thuê xe, nhận cầm đồ đến buôn bán hàng tranh đá quý từ Lục Yên về Hà Nội, Hải Phòng. Trước khi về quê, Dũng “K cơ” đã nhìn ra một lượng hàng đá đỏ lớn vẫn còn trong dân do người ta găm lại chờ thời. Anh làm môi giới cho khách từ khắp nơi đến mua hàng, mỗi chuyến thành công cũng kiếm thêm được một ít.

Nhớ những ngày cuối ở Lục Yên, có vài nhà dân bắt đầu chuyển sang làm tranh từ đá quý, nhiều lần về Hà Nội, Dũng “K cơ” thấy đây là con đường làm ăn mới giúp ích nhiều cho cuộc sống gia đình mình. Vậy là quyết định lên Lục Yên mua một ít tranh về bán thử, ai dè tranh bán khá chạy. Nhưng với hiểu biết về đá, Dũng “K cơ” nhận ra rằng tranh bằng đá mà mình mua về bán đều dùng loại đá chưa tốt nên mơ ước mở xưởng với mong muốn làm được loại hàng chất lượng cao và để lại được cho đời thương hiệu "tranh đá quý của Dũng “K cơ”".

Cuối năm 2005 đến đầu 2006, Dũng “K cơ” xây xong căn nhà ở thị xã Sông Công, mua sắm tiện nghi đầy đủ như một khách sạn cỡ 2-3 sao rồi quyết định lập một xưởng làm tranh đá quý.

Đi nhiều nơi, Dũng “K cơ” đã tìm được một số thợ cả. Mang số đá mình giữ từ xưa cùng với một lượng nguyên liệu mua từ Lục Yên về bắt đầu làm tranh với khoảng 20 thợ có tay nghề. Đó là cơ sở sản xuất tranh đá quý đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên.

Ngày Dũng “K cơ” khai trương cơ sở làm tranh đá quý, rất đông cán bộ lãnh đạo các cấp như Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Thái Nguyên Nguyễn Văn Vượng, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh uỷ tỉnh Thái Nguyên Đặng Văn Ngự, cùng các cán bộ lãnh đạo UBND thị xã Sông Công đã tới dự và ai cũng mừng cho anh.

Nẻo thiện gập ghềnh nhưng không phải là không thể đi và đến đích - ngay cả là với một người từng đầy tai tiếng như tướng cướp Dũng “K cơ”

Chí Long - Ngọc Tước
.
.
.