Chuyện về nữ giao bưu “đi dép một chân”

Thứ Ba, 25/09/2007, 08:24
Vào những năm 1970, bài thơ về "Người đi dép một chân" của nhà thơ Bùi Minh Quốc không còn xa lạ với những người chiến sĩ giao bưu Quảng Nam. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người giao liên Phan Thị Phong ở thôn 5, xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, dẫn đường đưa nhà thơ về vùng cát công tác.

Lội về vùng cát Bình Dương kiên trung, anh hùng một chiều giữa tháng 9, trong căn nhà nhỏ giữa mênh mông cát, người giao liên năm nào nay đã sang tuổi 66. Chị cười tươi khi chúng tôi hỏi thăm về cái lần "đi dép một chân" bị nhà thơ bắt gặp và nên thơ.

Thời đó, chị là giao liên hợp pháp, được tổ chức giao nhiệm vụ dẫn đường đưa cán bộ về cơ sở. Người giao liên hợp pháp không thể mang dép cao su được vì sợ địch nhìn dễ phát hiện. Nhưng đi trong đêm phải mang dép cao su để ngừa đạp phải rắn rết.

Trong chuyến dẫn đường cho nhà thơ Dương Hương Ly (sau này chị Phong mới biết tên thật là Bùi Minh Quốc) về vùng Đông Thăng Bình, chị đi trước, đoàn cán bộ đi sau một đoạn: "Tôi đi trước có gì nổ súng/ Anh trở lùi - lùi một đoạn thôi nghe/ Nếu tôi bị cũng lòi ra ổ chúng/ Để biết chừng, soi ngả khác ta đi".

Vì mê mải soi đường, tập trung theo dõi và đánh địch, bảo vệ cán bộ, một chiếc dép cao su đã tuột mất từ lúc nào, còn một chiếc trượt lên đến ống chân của người giao liên nhỏ nhắn vùng cát. Và hình ảnh ấy "ấn tượng" nhà thơ: "Người đưa đường đi dép một chân/ Bước thấp bước cao ngó sao mà tội vậy/ Một chiếc dép trong lúc nhào bắn vội/ Đã tuột quai văng mất tự khi nào…".

Hơn 10 năm làm giao liên dẫn đường, người chị Phong đầy vết thương, nhiều lần tưởng chừng không thoát hiểm nguy. Ngày 1/7/1969, địch bất ngờ vây quanh cả làng và ập vào nhà mẹ Hoạt ở xã Bình Đào, huyện Thăng Bình. Không còn con đường nào khác, chị và mẹ đành gom hết công văn, tài liệu xuống hầm gia đình để trú ẩn. Địch đứng trên miệng hầm dùng loa gọi, rồi thả lựu đạn xuống, đánh sập hầm và đốt nhà mẹ Hoạt, rồi bỏ đi.

Du kích xã về, cố gắng đào bới, khi đào được thì chị đã mê man bất tỉnh. Chị được du kích khiêng về vùng cát Bình Dương đưa đến nhà cơ sở. Nằm 20 ngày, bệnh tình hơi giảm, ăn được chén cháo, sức khỏe tạm bình phục, nhưng mắt thì bị mờ, chị được du kích đưa lên cứ.

Ngay sau đó, chị Phan Thị Phong được lệnh ra Bắc để điều trị. Đến Trạm K9, chị đi lạc, nằm 2 ngày 3 đêm ở rừng sâu, thiếu nước, thiếu ăn, gượng dậy không nổi, tưởng chừng như khó thoát khỏi cái chết. Trạm trưởng đã báo về Quảng Nam là chị Phan Thị Phong (Thăng Bình) mất tích. Tình cờ bộ đội đi rừng đã tìm thấy và khiêng về trạm.

Tiếp tục trên chặng đường ra Bắc, đi qua cầu treo, vì sức yếu, chị ngất xỉu, hai chân rơi xuống thòng lòng, may nhờ hai vai còn vướng vào dây, lơ lửng hàng giờ đồng hồ trên con suối dữ. Đến tối bộ đội đi ngang qua, kéo lên, 2 chân sưng tướng. Nằm trạm xá chữa bệnh, chân vẫn còn sưng, cán bộ quân y đòi tháo khớp bàn chân trái để điều trị, chị khóc năn nỉ cố gắng chữa để giữ chân. May mắn thay, cũng qua khỏi và chị tiếp tục đi.

Ra đến K15 (Quảng Bình) vào ngày 28/9/1969, vết thương và thêm căn bệnh sốt rét ác tính đã làm chị suy sụp, phải mất thêm 3 tháng điều trị và dưỡng bệnh. Sau đó, niềm vinh dự của chị là được chọn vào đoàn miền Nam đi dự hội nghị tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam tổ chức ở Thụy Sỹ.

Trở về lại miền Bắc, chị Phong được học tập, bồi dưỡng văn hóa. Mỗi chiều cuối tuần, mấy chị em đi bộ từ Hải Dương lên Hà Nội nằng nặc xin về Nam chiến đấu. Các anh lãnh đạo hứa: nếu các chị học hết lớp 5 sẽ cho về Nam. Thế là thi xong, chưa biết kết quả thế nào, ngày 5/12/1972, các chị được vào Nam.

Ngày 4/3/1973, chị về đến cơ quan tổ chức tỉnh Quảng Nam và ít ngày sau được điều về A12 và làm ở giao bưu tỉnh cho đến ngày Tổng tiến công nổi dậy giải phóng quê hương.

Thời tuổi 20 chị cũng đã chính thức có chồng ở xóm trên, thế nhưng, hoàn cảnh rất đặc biệt, lễ hỏi, lễ cưới đều tổ chức nhưng vắng bóng chị. Ngày đó, gia đình chị và gia đình chồng đã có hứa hôn từ trước, cả chị và chồng chưa hề quen biết.

Ngày tổ chức cưới, chị đang làm nhiệm vụ, vừa bàn giao cán bộ cho trạm khác đưa về Hội An thì nghe có người nhà nhắn về gấp. Trên đường đi, tổ chức có lệnh bí mật: dẫn đường đưa cán bộ lên cứ. Thế là chị Phong đành lỗi hẹn với chồng và hẹn: "Chờ đến ngày độc lập". Những chuyến công tác xa quê dằng dặc, chuyển đổi công tác vùng khác, không thể chờ chị Phong, người chồng đã có vợ khác…

Chị về hưu năm 1987, về sống ở ngôi nhà của mẹ. Cha mẹ chị đã mất. Giờ trong căn nhà tình nghĩa rộng rãi, có thêm vợ chồng người chị ruột về ở với chị. Ngày ngày, chị chăm cây đậu, cây mãng cầu,… trên mảnh vườn cát trắng trước nhà, chăm sóc miếng ăn, giấc ngủ cho các đứa cháu cũng là niềm vui, khuây khỏa ở cái tuổi không còn trẻ

Viết Nam
.
.
.