Chuyện ở làng phong Quả Cảm
Có một làng mang cái tên thật mạnh mẽ - Quả Cảm. Trải qua gần 100 năm, làng vẫn tồn tại một cách... quả cảm. Nhân tố quan trọng tạo nên sự bền chắc ở đây chính là những mối tình của người mắc bệnh phong.
Làng phong Quả Cảm có tuổi đời cao thứ hai ở miền Bắc (sau làng phong An Môn, Thái Bình). Làng thành lập năm 1913. Thuở ban đầu, làng là nơi quy tụ những người mắc bệnh hủi bị xã hội ruồng bỏ phải bỏ xứ đi lang thang. Vị cha đạo người phương Tây tốt bụng đã chọn chân quả đồi nằm không xa thị xã Bắc Ninh (nay là thành phố Bắc Ninh) lập làng. Làng tọa lạc trên diện tích 13 hécta thuộc huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Gần 100 năm nay, đây là nơi cư ngụ của nhiều thế hệ người mắc bệnh phong, có những gia đình có tới 4 thế hệ đã và đang cư ngụ.
Điểm hẹn của những cuộc đời... phong
Cái cốt lõi tạo nên sự bền chắc của làng gần một thế kỷ qua chính là những mối tình của những người không may mắc phải bệnh phong. Trên mảnh đất này, người đến từ tứ xứ gặp nhau. Tại đây, họ có sự thông cảm và hiểu biết lẫn nhau, không bị những cái nhìn ghẻ lạnh. Ở nơi này họ được chăm sóc và coi trọng.
Chính vì thế mới có chuyện, tuy làng có 129 người nhưng hiện chỉ có 1 người đang là bệnh nhân phong. Thế còn 128 người kia sao lại ở đây, nơi mà chắc chắn chẳng ai thích khi buộc phải nói mình sống ở ngôi làng đầy tính “đặc thù” này. Xin thưa: 128 người này từng là bệnh nhân phong.
Tuy kết quả xét nghiệm là âm tính với căn bệnh phong nhưng những di chứng của nó trên cơ thể họ vẫn còn. Về mặt tinh thần, họ vẫn tự coi mình là người bệnh phong nên vẫn có mặc cảm với cộng đồng. Còn một thứ di chứng rất nặng nề khác nữa, nó tồn tại hiển nhiên, hàng ngày, hàng giờ trong cuộc sống của họ. Đó chính là những phần thân thể bị “hủi ăn”, là những đôi chân bị ăn cụt đến gối, những bàn tay không còn ngón... Căn bệnh biến họ trở thành tàn phế. Những con người cô đơn, bệnh tật đã tìm đến nhau.
Chính những cuộc tình này đã làm cho cuộc sống của họ thêm đáng sống. Nó cũng là nơi cho ra đời những đứa trẻ mà sự khỏe mạnh của chúng là minh chứng khẳng định căn bệnh này không mang tính di truyền. Sự thành đạt của thế hệ con cháu họ cũng cho thấy ở đâu có ý chí, có nghị lực và tư chất, ở đó có người tài. Những đứa trẻ cứ theo nhau vào giảng đường đại học là một minh chứng cho điều này.
“Con ruồi nó còn có đôi”...
“Con ruồi nó còn có đôi chứ huống hồ là con người, con người chứ có phải là gỗ đá đâu” - đó là lời cụ Nguyễn Thị Mão, 74 tuổi khi nói về mối tình không chỉ của riêng mình mà nói cho cả... làng. Làng hiện nay có bao nhiêu cặp vợ chồng thì bà cũng không biết vì chẳng đếm bao giờ. Có gì mà phải đếm khi người ta đến với nhau vì tình, sống với nhau cũng bằng tình. Như bà đây này, khi phát hiện bệnh, bà bị chồng ruồng rẫy. Nhà nghèo, quê nghèo cộng với căn bệnh quái ác khiến bà khó mà sống được ở làng. Thế rồi bà được đưa đến đây.
Trước khi đi, bà nghĩ mình mắc bệnh hủi nên người ta phải gom đến một nơi hoang vắng, xa lạ. Nhưng ngược lại. Tuy điều kiện vật chất lúc bấy giờ còn khó khăn vì cả nước đang trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp trường kỳ nhưng bà được điều trị chăm sóc khá chu đáo. Căn bệnh cùng di chứng cụt chi khiến bà nghĩ mình sẽ mãi chôn vùi tuổi thanh xuân ở làng. Nhưng rồi lời tỏ tình của anh Đoàn Phú Vinh đã làm thay đổi số phận bà. Chàng trai hơn 50 năm về trước nay là ông lão 82 tuổi. Bà tự hào khoe với chúng tôi ngoài một con riêng bà còn có 3 con chung với ông, hiện ông bà đã có 5 đứa chắt.
“May mà căn bệnh này không di truyền, con cháu chúng tôi đứa nào cũng khỏe mạnh cả” - bà nói. Tôi hỏi tại sao không về quê sống với con cháu thì bà bảo sống ở làng vui hơn. Tuy con cháu đều hiểu và thông cảm với bệnh tình của mình nhưng làng xóm vẫn có điều tiếng không hay. Già cả rồi, tránh tiếng cho con cháu cũng là bổn phận.
Nghe bà Mão nói, tôi lại nhớ câu chuyện của bà Hoàng Thị Chuốt, 78 tuổi. Tôi gặp bà tại phòng chỉnh hình. Bà đến nhờ cô Xuân, kỹ thuật viên đóng lại cái cúc ở chiếc chân giả. Bà bị vi trùng phong ăn cụt cả hai chân đến tận đầu gối. Mọi di chuyển của bà phụ thuộc vào đôi chân bằng nhựa cứng quèo. Mỗi khi chiếc cúc bật ra là bà khổ sở vì phần đùi không thể điều khiển được chiếc chân giả. Bà mặc quần nhung màu tím, áo phin nõn. Nếu nhìn qua chẳng ai biết bà đi bằng chân giả (do bà mặc quần dài che kín) mà chỉ nghĩ bà bị đau chân phải đi lặc lè.--PageBreak--
Bà kể, hồi đứa con trai sau khi tốt nghiệp đại học và có việc làm ở Hà Nội dẫn người yêu về giới thiệu, bà bảo ngay với cô gái: “Hai bác mắc bệnh hủi, chân tay bị hủi ăn cho tàn phế thế này đây. Nếu thông cảm thì cháu hãy lấy con bác”. Cô gái không nói gì, chỉ thấy ít hôm sau con bà giục bố mẹ đi làm lễ dạm hỏi.
Người ở làng phong Quả Cảm hôm nay tự hào là con cháu mình sinh sống ở khắp nơi trên dải đất hình chữ S, với đủ các loại nghề nghiệp. Trong lịch sử của làng, cái đáng tự hào nhất phải kể đến việc làng có 5 người là kỹ sư, cử nhân, những trí thức ra đời và được nuôi dưỡng trên mảnh đất mà người khai sinh ra đã đặt cho làng cái tên đầy ẩn ý. Góp phần tạo nên những kỳ tích cho làng không thể không kể đến cô y tá Nguyễn Thị Xuân. Đó là một bà mối mát tay, một người phụ nữ luôn hướng thiện.
Chuyện về người phụ nữ thiện tâm
Chúng tôi hỏi thăm một cô gái có bàn tay cụt ngón phòng cô Xuân. Cô gái dẫn đi một lát rồi rụt rè hỏi: “Cô Xuân nào hả chị?”. Tôi không biết trong làng có nhiều Xuân nên bảo “cô Xuân làm mối mát tay ấy”. “Lúc đầu em định hỏi có phải chị tìm cô Xuân không chồng... nhưng ngại”, cô gái nói. Đến lúc này chúng tôi mới biết bà mối mát tay có tiếng này chỉ mát tay làm mối cho người khác, còn mình thì...
Trong câu chuyện với cô Xuân, chúng tôi đều cảm nhận đây là một người phụ nữ thiện tâm. Gần 20 năm ở làng, cô trở thành người thân của tất cả mọi người. Từ cụ già ngoài 90 đến con trẻ. Ở làng, mọi người đều gọi cô bằng “cô”, xưng “em”, kể cả “già làng” Nguyễn Thị Tỉnh, 96 tuổi. Ban đầu chúng tôi hơi ngạc nhiên về cách xưng hô này, còn cô thì bảo do các cụ quen gọi như vậy. Cô vào làng từ khi còn là một cô gái trẻ, nếu như người ta thì bây giờ cô đã lên chức bà. Thật không ngờ, người phụ nữ đã vun đắp cho hạnh phúc của mấy chục đôi uyên ương lại phải ngậm ngùi trước cảnh thân đơn gối chiếc. Biết là nghịch lý nhưng nếu ở đời không có những người như cô Xuân thì những người bệnh khó có cơ hội để được sống cuộc sống lứa đôi.
Chúng tôi leo lên đồi, đến thăm ngôi nhà hạnh phúc của anh Trần Văn Chất và chị Dương Thị Đoàn. Một ngôi nhà mái bằng 3 gian trên diện tích 4 sào được bao bọc cây trái xung quanh, là mái ấm mà cô Xuân bỏ nhiều công sức xây dựng. Câu chuyện tình của họ cũng bắt đầu từ cô Xuân. Chị Đoàn là người dân tộc Mường, quê Phú Thọ. Trước khi “theo chàng về dinh”, chị đang sống cùng những người đồng cảnh ngộ ở Sóc Sơn, Hà Nội. Tại một chương trình giao lưu, trong đó có tiết mục nấu phở do cô Xuân tổ chức, họ gặp nhau. Biết hai người có tình cảm với nhau, cô Xuân đã vận động từ thiện để xây căn nhà trên 20 triệu và ủi đất san đồi để cho cặp vợ chồng này mảnh vườn sinh sống.
Chúng tôi còn được biết, với các cháu là con em trong làng khi đến trường đều được cô hỗ trợ. Học mẫu giáo mỗi tháng được cô cho 50.000đ; Tiểu học 100.000đ... Càng lên cấp học cao thì số tiền cô giúp đỡ nhiều hơn. Để khuyến khích các cháu học giỏi, cô treo giải thưởng như nếu được điểm 10 sẽ tặng 1 quyển vở, được học sinh giỏi tặng 1 chiếc xe đạp v.v... Những món quà tuy nhỏ bé ấy cũng là động lực để các cháu đua nhau học tốt. Với những đôi uyên ương sắp thành gia thất, cô lo đủ mọi thứ như một người mẹ. Có những cặp khó khăn, cô còn cho thêm chiếc nhẫn để làm vốn. Tôi hỏi cô lấy tiền ở đâu để cho, cô bảo đi vận động từ thiện, trích tiền lương của mình
