Chuyến đi bộ vượt đèo Hải Yến và bài báo "Lạng Sơn tháng ba"

Thứ Tư, 22/11/2006, 10:19

Đến sát bờ suối, anh Cử bảo tôi dừng lại. Anh ra hiệu lấy súng ra. Cả hai chúng tôi cùng lên đạn. Anh giao tôi đứng trên bờ canh chừng cho anh qua suối trước. Khi nào anh lên bờ bên kia quay lại canh chừng, tôi mới được vượt qua.

Tôi không phải là người ngay từ khi thoát ly đã chọn cho mình cái nghề làm báo. Nghiệp báo chí đến với chúng tôi như một duyên phận trong lối rẽ của cuộc đời. Năm 1981, vừa tốt nghiệp khoá D8 Đại học An ninh nhân dân, 6 chúng tôi được tổ chức "nhặt" về Báo Công an nhân dân khi đó vừa được nâng từ cấp Phòng lên cấp Cục. Thấm thoắt đã hơn 25 năm lăn lộn với nghề, chúng tôi đã bước vào tuổi ngũ tuần.

Nguyệt Tuệ (Thuỳ Linh) nay chuyển sang Đài Truyền hình Việt Nam, Văn Quyết về Công ty Nhiếp ảnh Trung ương, Kim Dung vào Báo Công an Đà Nẵng; chỉ còn lại ba chúng tôi Phạm Miên, Phúc Bồng, Quang Hào vẫn công tác ở Báo. Một phần tư thế kỷ gắn bó với Báo Công an nhân dân đã để lại cho chúng tôi biết bao kỷ niệm buồn vui trong nghề nghiệp.

"Cậu đi Lạng Sơn, viết bài xung quanh việc chuẩn bị Đại hội Đảng. Viết cho có không khí cuộc sống vào. Phải nói cho được cái vất vả của cán bộ Công an và nhân dân trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc ở vùng biên ải. Bài phải có trước Đại hội". Trưởng phòng Trần Kính bảo tôi như vậy. Chả là, đầu năm 1982 chuẩn bị Đại hội  Đảng toàn quốc lần thứ V, Báo có kế hoạch tuyên truyền đậm nét hoạt động của Công an ở các địa bàn trọng điểm, đó là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và tỉnh biên giới Lạng Sơn. Tôi là một trong những phóng viên được giao nhiệm vụ đó.

Tết nhất xong, ngày 18 tháng Giêng tôi chuẩn bị lên đường. Chiều hôm trước đem thẻ nhà báo và công lệnh ra bến Nứa xếp hàng lấy vé. 4h sáng hôm sau, tôi đã dậy nấu cơm, mói một bát ăn trước. 5h, tôi gọi mấy anh em ngủ cùng phòng là anh Đặng Lân, Ngô Mạnh và Văn Quyết dậy.

Tác giả trong một chuyến công tác tại Lạng Sơn. Ảnh chụp tại cửa khẩu Cổng Trắng, tháng 9/1992.

Tối trước, thấy tôi chỉ có 2 chiếc quần dài, sợ lên Lạng Sơn rét, anh Mạnh ném thêm cho một chiếc quần vải pho gai màu be đã píckê mông, bảo: "Đem thêm đi, lỡ bị mưa ướt mà thay". Sáng sớm, dự định cả ba anh em đưa tôi ra bến xe, nhưng thấy tôi có độc chiếc cặp, Quyết và anh Lân ở nhà, mình anh Ngô Mạnh lấy "con" xe đạp Ken-sun chở tôi ra bến Nứa. Đưa tôi lên xe, Mạnh còn dặn theo: "Nhớ kiếm ít thuốc cuốn Lạng Sơn nhé".

Đây là lần đầu tôi lên với xứ Lạng nên vừa hồi hộp, vừa lo lắng. Khi đó chiến tranh biên giới vừa chấm dứt, nhưng xung đột vẫn xảy ra ở một số khu vực sát biên. Đường từ Hà Nội lên Lạng Sơn lại rất khó khăn. Thỉnh thoảng xe khách qua đèo Sài Hồ xảy ra cướp rất táo bạo… Đến Lạng Sơn lúc 2h chiều, nghe tôi báo cáo, anh Hoàng Quyền, Trưởng phòng PX15 viết cho mảnh giấy, ghi: "Gửi Yến. Có nhà báo từ Hà Nội lên. Cháu xem bố trí chỗ nghỉ giúp chú. Lịch sự và chu đáo như phong cách người xứ Lạng nhé".

Cầm tờ giấy trên tay, tôi đến nhà khách nhận phòng mà thấy vui vui. Ở thị xã vùng cao vừa ra khỏi chiến tranh, trăm điều còn khó khăn mà cuộc sống vẫn vui và lạc quan đáo để. Ngay tối hôm đó, tôi đã được tiếp xúc với anh em phòng PX15. Trong đội tuyên truyền, các anh Hà Đông Dương, Nguyễn Viết, Trần Trà, Phương Thèn thật cởi mở. Hơn một tuần lang thang ở các phòng và Công an thị xã, Giám đốc Đào Đình Bảng đồng ý cho tôi cùng đi Na Sầm với anh Hoàng Văn Cử, Phó phòng PA16 để được vào địa bàn Tân Thanh sát biên.

Na Sầm, trung tâm của huyện Văn Lãng vừa ra khỏi chiến tranh thật điêu tàn. Nhà cửa bị đổ nát gần hết. Trụ sở các cơ quan của huyện đang được xây dựng. Công an huyện không đủ chỗ cho anh em nghỉ nên phải ở nhờ nhà dân xung quanh. Trưởng Công an huyện Nguyễn Phong (sau này là Giám đốc Công an tỉnh Lạng Sơn) cũng thống nhất để tôi đi Tân Thanh, nhưng anh bảo: "Phải chờ ba ngày nữa mới đi được. Từ đây vào tới đó không có phương tiện nào khác là phải cuốc bộ. Đi 30 cây qua đèo Hải Yến liệu nhà báo có chịu nổi không? Mấy hôm rồi trời mới mưa to lắm, đường qua đèo lầy lội, rất khó đi. Chuẩn bị tinh thần nhé". Lại ba ngày chờ đợi. Tôi đem tem gạo xuống nhà bếp báo cơm.

Anh Cử phải thường xuyên đi làm việc nghiệp vụ riêng của anh nên mình tôi ăn cơm với anh em Công an huyện. Rỗi rãi, tôi lang thang khắp thị trấn và tìm được anh Nông Văn Tuyến, cộng tác viên lâu năm của Báo ở đây. Biết tôi ăn cơm bếp Công an huyện không có gì, chiều đến anh Tuyến rủ tôi đem lưới ra suối gần đấy kiếm cá. Gần 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi kiếm được chừng ba lạng. Anh đem về bảo người nhà làm sạch cho nấu dưa chua. Thế là hai chúng tôi đánh bay với nửa lít rượu trắng.

Trong bữa rượu, anh Tuyến nhắc lại từng bài viết của anh được đăng Báo Công an không thiếu lấy một chữ và coi tôi như ân nhân trong nghề viết của anh, mặc dù tôi chẳng làm được gì khi bài anh gửi về Toà soạn. Sau ba ngày nắng ráo, anh Cử bảo tôi lấy tem gạo nhờ Công an huyện đổi cho hai cân lương khô để đem đi ăn đường.

Sáng sớm hôm sau, với chiếc ba lô lộn ngược, tôi bỏ một bộ quần áo bộ đội, một chiếc máy ảnh, quyển sổ, hai cân lương khô, bình tông nước và khẩu K59, cùng anh Cử vượt đèo Hải Yến. Ba giờ đầu tôi đi phăm phăm, có lúc còn vượt lên cả anh Cử. Nhưng sau cứ đuối dần. Những thứ đeo trên người mỗi lúc một nặng thêm. Gần 12h trưa, chúng tôi đã vượt qua đỉnh đèo và nghỉ ăn trưa.

Tôi bóc lương khô để hai anh em cùng ăn, nhưng anh Cử ngăn lại. Anh lấy ra bọc cơm nắm cùng muối vừng. Hai chúng tôi chia nhau nắm cơm của anh ăn trước. Hoá ra buổi sáng anh đã nhờ người quen ở thị trấn nắm cơm để mang theo. Tống nửa nắm cơm vào bụng thấy người khỏe nhưng lúc này đôi chân tôi rã rời không muốn bước nữa. Nhưng không có cách nào khác, tôi khoác ba lô đi theo anh.--PageBreak--

Sau nhiều lần phải dừng lại buộc dây giày, xốc quần và ngồi nghỉ, hơn 2h chiều chúng tôi đến Đồn Biên phòng Tân Thanh. Đây là trụ sở của đồn tạm sơ tán, vì đồn cũ đã bị san phẳng khi chiến tranh xảy ra. Chào anh em trực ban đồn, như muốn báo rằng chúng tôi đã có mặt trong khu vực biên giới. Anh Cử đưa tôi đi tiếp chừng ba cây số nữa vào mấy bản sát đường biên đó là Còn Phie, Pó Bẩn.

Tình hình an ninh trật tự ở đây lúc này còn phức tạp lắm. Vẫn diễn ra hoạt động xâm nhập thu thập tình hình, bắt cóc, xâm lấn đất đai… Vì vậy, vai trò của cán bộ cơ sở là hết sức quan trọng. Chúng tôi qua nhà Trưởng bản, Bí thư Chi bộ, Công an viên và một số gia đình người quen của anh Cử. Nhà nào cũng tỏ ra thân mật với anh. Gia đình nào cũng mời chúng tôi tối ở lại cùng "kin khẩu". Nhưng anh đều từ chối. Chúng tôi đi tiếp.

Khi đi từ bản Còn Phie sang Pó Bẩn, chúng tôi phải qua một con suối cạn. Lối mòn qua suối chỉ cách đường biên hơn hai chục mét, cỏ lau mọc um tùm. Đến sát bờ suối, anh Cử bảo tôi dừng lại. Anh ra hiệu lấy súng ra. Cả hai chúng tôi cùng lên đạn. Anh giao tôi đứng trên bờ canh chừng cho anh qua suối trước. Khi nào anh lên bờ bên kia quay lại canh chừng, tôi mới được vượt qua. Tôi răm rắp làm theo yêu cầu của anh. Nhưng thú thực lúc đi đến giữa suối, dù tay lăm lăm khẩu súng, tôi vẫn thấy hồi hộp.

Khi hai anh em đã cùng ở bờ suối bên kia, tay tôi giữ búa đập để khoá an toàn súng mà tim còn đập rộn. Anh Cử giải thích phải làm thế là bởi chỗ này đã xảy ra mấy vụ bắt cóc. Có tốp chiến sĩ ba người đi qua nơi đây, khi lên bờ bên kia phát hiện chiến sĩ đi sau cùng đã bị mất…

Chúng tôi vào bản Pó Bẩn đã sẩm tối. Anh Cử nói gì đó bằng tiếng Tày với gia đình nhà chủ và họ nấu cơm cho chúng tôi ăn. Cơm có thịt trâu khô, một ít rau tàu soi, món tàu choong và bí luộc. Không hiểu do đói hay món ăn lạ, tôi đánh liền ba bát. Cơm nước xong, nghe đài một lúc là đi ngủ. Chúng tôi được gia chủ bố trí ngủ ở đầu nhà sàn, có đệm, chăn bông vỏ hoa con công Trung Quốc.

Do đi đường quá mệt, chỉ mấy phút sau, tôi đã ngủ say. Ước chừng khoảng hai tiếng, khi tôi đang đắm mình trong chăn ấm thì anh Cử đánh thức tôi dậy. Tôi không hiểu chuyện gì. Anh xua tay ra hiệu không được hỏi. Tôi cứ lẳng lặng xỏ giày, đem đồ đi theo anh. Mắt tôi cay xè. Tôi loạng choạng bước sau anh dưới ánh trăng hạ tuần soi mờ nhạt trên con đường mòn trong bản.

Chúng tôi đến một nhà khác cách đó chừng 500 mét. Chủ nhà khi nghe gọi đã nhẹ nhàng mở cửa nhà sàn, chỉ cho chúng tôi vào trong góc với chỗ ngủ đã mắc màn và chăn đệm đầy đủ. Tôi thả mình xuống là  làm một giấc. Mở mắt ra đã 6h sáng hôm sau. Chủ nhà chiêu đãi chúng tôi một bữa cháo ngô đặc sánh thơm phức. Làm mấy bát cháo ấm bụng, chúng tôi lại lên đường.

Khi ấy anh Cử mới nói cho tôi rằng buổi tối biết chúng tôi đến ăn cơm và ngủ ở đó, có một vài người đến chơi, có ý dò la về chúng tôi. Linh cảm thấy điều không lành sẽ xảy ra, anh bảo chủ nhà bố trí cho chúng tôi chỗ nghỉ  khác và vì vậy nửa đêm chúng tôi phải chuyển đi. Anh nói làm tôi giật mình. Thì ra kinh nghiệm hoạt động ở khu vực biên giới cho các anh những bài học và cách ứng xử rất linh hoạt. Điều đó nếu không đi thực tế thì sao những người làm báo như chúng tôi biết được…

Sau chuyến cùng đi vào khu vực biên giới Tân Thanh với Phó phòng Hoàng Văn Cử, tôi thật sự xúc động. Phần vì cảm phục và quý mến tinh thần trách nhiệm của  anh và anh em Công an ở địa bàn biên giới, phần vì vui và trân trọng tình cảm mà bà con các dân tộc thiểu số nơi phên giậu của Tổ quốc dành cho lực lượng Công an. Với những con người như thế, từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc luôn được giữ vững; họ luôn làm yên lòng những người đang ở phía sau như chúng tôi.

Đoàn công tác Báo CAND viếng Nghĩa trang Hàng Dương - Côn Đảo, năm 2004.

Trở về Toà soạn, tôi viết bài "Lạng Sơn tháng ba" đăng trên báo phục vụ dịp Đại hội Đảng lần thứ V. Khi ấy, tôi chưa hiểu nhiều về thể tài báo chí, nhưng có lẽ với cảm xúc chân thật của chuyến đi mà tôi viết ra, nên anh Phạm Hoài Nam và anh Hữu Ước đã biên tập và đề vào bài của tôi là "Ghi chép".

Vâng, với tôi lúc ấy thì ghi chép hay ghi nhanh gì đi nữa tôi cũng chưa đủ khả năng phân biệt rạch ròi. Nhưng chắc chắn một điều rằng, những cảm xúc đong đầy trong chuyến đi và tình cảm của anh em Công an xứ Lạng cũng như của người dân ở vùng biên ải này thì tôi cảm nhận rất rõ và không bao giờ quên.

Sau hơn 24 năm ngồi viết lại những dòng này, tôi được biết, anh Nông Văn Tuyến sau cơn bạo bệnh đã trở thành người thiên cổ; anh Hoàng Văn Cử và một số người khác đã nghỉ hưu; con đường qua đèo Hải Yến vào Tân Thanh nay đã  trải nhựa và cuộc sống của người dân vùng biên nơi đây đã thay da đổi thịt. Dẫu vậy, trong tôi, những tên đất, tên người thì vẫn linh thiêng tựa thuở nào

.
.
.