Chuyện buồn làng nghề ở Hải Phòng

Chủ Nhật, 15/06/2008, 08:18
Hải Phòng từng là địa phương có số lượng làng nghề khá đông. Do biến động của thời gian và kinh tế, xã hội, nhiều làng nghề truyền thống đã bị mai một, thất truyền. Những làng nghề còn tồn tại cũng đang "sống dở chết dở" vì manh mún, nhỏ lẻ, lại phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm cao. Trong khi quy hoạch, đầu tư để phát triển bền vững đang còn là bài toán nan giải.

Theo khảo sát, Hải Phòng từng có hơn 60 làng nghề, với 20 loại hình nghề khác nhau, phần lớn là nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống. Có những làng nghề hình thành từ cách đây rất sớm (500- 700 năm) và được sử sách lưu danh, như: Làng tạc tượng Bảo Hà (huyện Vĩnh Bảo), làng đan tre Sinh Đan (huyện Tiên Lãng)…

Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, từ 60 làng, nay "chết" dần chỉ còn lại 12 làng (xét theo tiêu chí mới). Thậm chí, có làng có danh nhưng không có thực do sản xuất rất èo uột và đang có nguy cơ chết yểu.

Từ sức sống mãnh liệt...

Hơn 700 năm trước, làng tạc tượng Bảo Hà (huyện Vĩnh Bảo) nổi danh không chỉ trong nước mà cả nước láng giềng Trung Quốc. Theo thần phả làng Bảo Hà, ông tổ nghề tạc tượng Việt Nam là Nguyễn Công Huệ chính là người làng này.

Phường thợ ở đây, với các tên tuổi như: Tô Phú Vượng "hạt gạo thành voi", Hoàng Đình Ức, chỉ một phút chiêm ngưỡng các quần thần trong triều, về tạc tượng giống như in. Sản phẩm của làng dường như "ngự" ở hầu hết các đình chùa ở phía Bắc.

Hay như nghệ nhân (đã quá cố) Đặng Trần Tâm, ông sinh ra ở một làng nghề đất nung thuộc huyện Kiến Thụy (làng nghề này nay đã mai một). Ông được mệnh danh người có "bàn tay vàng", với sản phẩm ấm trà bằng đất nung "độc nhất vô nhị", càng nung càng đỏ au, bóng loáng.

Trà pha không những giữ được hương vị mà khi rót ra chén, không một giọt vương phía dưới vòi như thường thấy ở các loại ấm trà bằng gốm sứ khác… Đáng tiếc, những bí quyết nhà nghề của các nghệ nhân tài hoa này, đều không được truyền lại, hoặc truyền lại nhưng con cháu sao nhãng, lãng quên.

Nhưng dù sao, việc 12 làng nghề truyền thống còn tồn tại, với 15.000 hộ, trong bối cảnh nghiệt ngã của cơ chế thị trường hiện nay, chứng tỏ sức sống của các làng nghề truyền thống ở Hải Phòng là rất mãnh liệt.

… Đến quy hoạch, đầu tư kiểu "đánh trống bỏ dùi"

Có một thực tế, các làng nghề ở Hải Phòng (kể cả những làng có quy mô toàn xã) thì vẫn rất nhỏ bé, manh mún và đa phần nằm rải rác ở các khu dân cư.

Ở làng nghề thu gom rác và chế biến phế liệu Tràng Minh (Kiến An), những năm gần đây, chính quyền địa phương đã thực hiện quy hoạch, đưa làng nghề ra xa khu dân cư. Nhưng đã 3-4 năm trôi qua, dự án vẫn "treo", trong khi ô nhiễm làng nghề ở đây đã đến mức báo động đỏ.

Sở dĩ như vậy, theo bà Lê Thị Thu Nhàn, Chủ tịch UBND phường Tràng Minh: "Là do quy hoạch không đồng bộ, Nhà nước chỉ cấp đất mà không đầu tư cơ sở hạ tầng. Thêm vào đó, tập quán sản xuất truyền thống "tự sản, tự tiêu" đã ăn sâu tiềm thức các hộ trong làng nghề nên rất khó thay đổi để thực hiện theo đúng quy hoạch".

Tương tự, một số làng nghề truyền thống khác như: Đúc kim loại ở Mỹ Đồng (huyện Thủy Nguyên), chiếu cói làng Lật Dương (huyện Tiên Lãng), tạc tượng - sơn mài làng Bảo Hà (huyện Vĩnh Bảo)… cũng vậy. Cách đây vài ba năm, thành phố cũng đã chủ trương quy hoạch.

Tuy nhiên, có làng nghề mới quy hoạch… trên giấy (?!), có làng nghề quy hoạch xong nhưng không đồng bộ nên chưa giải quyết được những vấn đề nan giải, còn nổi cộm, nhất là ô nhiễm làng nghề như: Làng nghề thu gom rác, chế biến phế liệu Tràng Minh (Kiến An); làng chế biến gỗ ô kan (Kiến An); các làng sản xuất vật liệu xây dựng An Sơn, Lại Xuân, Minh Tân (huyện Thuỷ Nguyên)… Tại đây, khói, bụi, chất gây độc hại phát thải bất kể ngày đêm, ảnh hưởng trực tiếp tới sinh hoạt và sức khoẻ cộng đồng.

Trong khi quy hoạch bất cập như vậy thì đầu tư cho phát triển làng nghề tại các địa phương còn bất cập hơn. Cho đến nay, mặc dù chưa có con số thống kê cụ thể nào về đầu tư cho làng nghề ở Hải Phòng. Nhưng qua trao đổi với đại diện một số làng nghề truyền thống thì hầu hết đều khẳng định chưa được đầu tư. Có chăng, chỉ là hỗ trợ đào tạo nghề hoặc chuyển giao công nghệ.

Như vậy có nghĩa, bản thân các hộ ở làng nghề phải tự xoay xở là chính. Việc thiếu vốn để đầu tư sản xuất, đổi mới trang thiết bị đã khiến nhiều sản phẩm sản xuất từ các làng nghề, chưa thực sự "hút" được khách.

Chẳng hạn, sản phẩm chiếu cói làng Lật Dương (Tiên Lãng), vì sản xuất thủ công lạc hậu nên sản phẩm thua xa cả về chất lượng lẫn mẫu mã so với chiếu cói ở một số địa phương khác. Và đương nhiên, chỉ tiêu thụ trong phạm vi huyện. Điều đó đã làm mất đi sự tấp nập vốn có ở các làng nghề truyền thống này.

Hiện tượng, người làng nghề bỏ nghề truyền thống để làm nghề khác do thu nhập thấp cũng đang diễn ra phổ biến ở Hải Phòng. Đây cũng chính là lý do khiến một số làng nghề truyền thống độc đáo như Rối nước làng Nhân Mục (huyện Vĩnh Bảo) đang dần mai một, thất truyền.

Cần một "nhạc trưởng" tâm huyết

Theo ông Bùi Văn Thuỷ, Trưởng phòng Chế biến nông - lâm - thuỷ sản và ngành nghề nông thôn thuộc Sở NN&PTNT Hải Phòng, một trong những bất cập lớn nhất đối với phát triển làng nghề ở địa phương hiện nay, đó là công tác quản lý Nhà nước các làng nghề.

Mặc dù, chức năng quản lý Nhà nước này thuộc về Sở NN&PTNT, nhưng trên thực tế, sản phẩm các làng nghề phần lớn thuộc khối ngành công nghiệp quản lý. Chính vì quản lý thiếu đồng nhất như vậy, đã dẫn đến tình trạng: Nhiều người quản lý nhưng trách nhiệm chẳng thuộc về ai. Hậu quả là, làng nghề phát triển tự phát, không xây dựng thương hiệu sản phẩm, cũng chẳng cần bảo vệ môi trường.

Để duy trì, ổn định và phát triển làng nghề một cách bền vững, theo các chuyên gia về kinh tế, không nên để "mạnh ai nấy lo" như hiện nay. Nghĩa là, phải rà soát, quy hoạch cho quy củ và phải có "nhạc trưởng" thật sự tâm huyết.

Cũng không nên coi làng nghề chỉ thuần túy làm nghề, mà phải coi đó là hình ảnh thu nhỏ của một địa phương... Vì thế, thành phố cần phải quan tâm tới làng nghề về mọi mặt, nhất là có cơ chế chính sách ưu tiên trong việc cho vay vốn, đầu tư cơ sở hạ tầng làng nghề…

Lệ Thu
.
.
.