Cải tử hoàn sinh nhờ Thái Cực Trường Sinh đạo

Chủ Nhật, 12/11/2006, 08:39
Anh Thục bị chấn thương sọ não, di chứng của nó khiến cơn đau đầu hành hạ anh kinh niên, một nửa người gần như bị tê dại, liệt vì đau. Sau một năm luyện tập Thái Cực Trường Sinh, từ một anh thương binh đau ốm anh trở nên khỏe mạnh.

Người Việt Nam hơn chục năm nay đã biết tới Thái Cực Trường Sinh (TCTS) như là một thứ "võ đạo", "thần dược" đắc địa trong việc rèn luyện sức khoẻ, bồi bổ dương khí, và đẩy lùi tứ chứng nan y, bệnh tật hiểm nghèo.

Hiện nay, TCTS có mặt trên hơn 53 tỉnh, thành với hàng chục vạn môn đồ trong đó có những môn đồ là những vị tướng lĩnh, chính trị gia, lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước. TCTS đã mang lại cho con người những điều kỳ diệu. Thế nhưng, ít ai biết rằng, mặc dù đã rời bỏ dương gian trong cuộc viễn du bất tận vào một thế giới khác, thì những gì mà thủ lĩnh của môn phái này để lại trong tuyệt pháp TCTS đã và đang tiếp tục lập nên những kỳ tích mới.

Từ một chính trị gia

Ông là Nguyễn Song Tùng, cố Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh - Xã hội. Ông sinh ra và lớn lên ở làng Đan Nhiễm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một dòng tộc khá nổi tiếng về học hành khoa bảng. Dường như ông sinh ra là để làm chính trị, một vị đại sứ, một nhà ngoại giao mà tên tuổi từng được nhắc đến trên trường quốc tế.

Từ năm 1948, ông đã được Trung ương Đảng chọn là một trong 10 cán bộ cử sang Thái Lan để tổ chức thành lập Ban Cán sự Đảng ở nước ngoài. Từ đó cho đến năm 1975, ông lần lượt giữ nhiều cương vị trọng trách trong tổ chức Đảng, hoạt động ở Campuchia, Đại sứ tại CHDC Đức. Gia đình ông vinh dự 3 lần được đón Bác tại nhà riêng. Tháng 3/1975 ông Song Tùng được Chính phủ bổ nhiệm làm Thứ trưởng Thường trực Bộ Lao động. Đến năm 1981 ông về nghỉ hưu.

Cơ duyên với Thái Cực trường sinh

Bản thân ông Song Tùng cũng không thể ngờ được rằng ông chính là thủ lĩnh của môn phái TCTS và là người đầu tiên đưa TCTS truyền lại cho nhiều môn sinh. Trong hồi ức của mình, ông Song Tùng đã kể lại cơ duyên kỳ ngộ này trong câu chuyện mang hơi hướng "rừng xanh truyền đạo".

Đó là vào năm 1954, sau khi miền Bắc giải phóng, ông tranh thủ về thăm quê Nghệ An trước khi đi xa nhận nhiệm vụ mới. Lúc này ông Song Tùng bước sang tuổi 33, tuổi sung sức chín chắn của một người đàn ông từng trải. Thế nhưng do nhiều năm hoạt động cách mạng trong điều kiện gian khổ, ông sớm mang trong mình những căn bệnh hiểm nghèo như: sốt rét kinh niên, kiết lỵ, đau dạ dày, viêm gan, ruột và 4 đốt cột sống bị vôi hoá v.v...

Trong số bạn bè ông tới thăm có một người vô cùng đặc biệt, đó là cụ Hoàng Đình Thực, anh ruột của mẹ ông Song Tùng, ông Song Tùng gọi bằng cậu ruột (ở Nghệ Tĩnh, anh hay em của mẹ đều gọi bằng cậu, chị hay em của mẹ đều gọi bằng dì).

Cụ Thực là một vị bô lão đáng kính ở làng, từng đậu 3 khoa tú tài năm 1912, 1915 và 1918, cụ là thầy dạy chữ Hán cho ông Song Tùng thuở thiếu thời, là một tấm gương tiêu biểu về đạo đức, mô phạm, tiết tháo của các vị lão Nho. Cụ vừa uyên bác về Nho học, vừa là vị lương y, nhà lý số nổi tiếng. Ông Song Tùng kính trọng thầy như cha đẻ.

Hay tin học trò, đồng thời là đứa cháu ruột từ xa đến thăm, cụ Thực áo dài khăn đóng chỉnh tề đợi ở cổng từ lúc nào. "Thầy theo dõi con suốt 33 năm, chờ đợi để có ngày hôm nay gặp được con và giúp con một việc. Việc này là cơ duyên định sẵn cho con, chỉ có con mới thay trời hành đạo được. Ta chỉ còn cách chờ con về để trao lại cho con là ta đã làm tròn bổn phận với tổ tiên".

Nói rồi cụ cầm tay dắt ông Song Tùng vào cúi lạy trước bàn thờ tổ tiên. "Trước khi mất thầy của ta cũng chính là cố nội của con, người đã sinh ra cha đẻ của con từng đậu Hoàng Giáp chế khoa ngày 5/6/1819. Công lao và sự nghiệp của Ngài đến nay còn ghi danh và lưu giữ vào bia đá tại nhà thờ làng Đan Nhiễm, đã quyết định trao vận mệnh cho con vì ta và thầy con đã xem cơ duyên của con rất kỹ và chỉ có một mình con là đủ cơ duyên lý số để ta và thầy con (ông Song Tùng gọi cha đẻ bằng thầy) đã lựa chọn"... Trước tiên ta sẽ chữa bệnh cho con vì người con ốm yếu lại mang nhiều trọng bệnh. Phần nữa ta truyền lại cho con môn tu luyện.

Thực chất là "võ đạo"

Hơn nửa tháng ở quê nhà, cụ Thực ân cần chỉ dẫn cho học trò Song Tùng cách chạy chữa bằng phép luyện quyền thuật. Võ thuật là: rèn luyện thể lực ứng phó trong mọi tình huống. Luyện hình của bài này là quyền thuật. Nhưng khác quyền thuật ở chỗ động tác của bài này chỉ là phương tiện để đạt được đạo. Ai có cơ duyên, đạo sẽ đến.

Từ hôm đó, trong trái tim của người con trai xứ Nghệ đau đáu một nỗi niềm khắc khoải. Mặc dù bận việc nước, thường xuyên phải công tác xa nhưng hễ có thời gian rỗi, ông Song Tùng lại giở bài quyền thuật ra ôn luyện chăm chỉ. Ông vừa học kinh dịch, vừa học lý thuyết.

Cuối cùng, cụ Hoàng Đình Thực trao lại nguyên văn bài tổng kết bằng chữ Hán của Đan Sơn đạo sư. Đó là một bài thơ có nội dung ẩn ý khó dịch, nhưng đã chứa đựng toàn bộ tinh thần và bí kíp của Thái Cực trường sinh bao gồm 128 nhịp (thế võ thuật) của bài tập này, dồn ý thức lên huyệt Bách Hội (ở đỉnh đầu) sẽ đạt được thần. "Tâm, Ý, Khí, Hình đồng khai hợp”, " Địa, Thiên, Nhân, hợp hưng chính khí", (Trời, Đất và Người (tam tài), 3 yếu tố cơ bản hợp lại được thì chính khí dâng cao).

Cùng với thời gian, sức khoẻ của ông được cải thiện rõ rệt, các chứng bệnh nan y hầu như được đẩy lùi, ông trở thành người khoẻ mạnh, cường tráng. Từ đó, ông chăm chỉ luyện tập ngày một tinh thông, đắc đạo. Sau khi nắm được căn cốt của TCTS, đặc biệt, về luyện hình, đã xác định được nhịp âm dương, góc độ bước đi trên Thái cực đồ và nội dung của 128 nhịp. Thấy được hiệu quả rõ rệt của TCTS cho sức khoẻ, từ năm 1966 ông Song Tùng đã truyền TCTS lại cho một số bạn bè, trong đó có đồng chí Lê Quang Đạo, cố Chủ tịch Quốc hội.

Đến năm 1986, sau khi nghỉ hưu, ông Song Tùng mới có thời gian để dành toàn bộ tâm sức cho việc nghiên cứu TCTS, viết sách và mở các lớp dạy từ thiện cho những ai muốn đến với TCTS. Lớp học TCTS đầu tiên có các cán bộ của Tổng cục Thể dục thể thao cũ, Viện Quân y 103, học sinh trường Amsterdam... và có cả những cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước.

Năm 1995, TCTS được UNESCO Hà Nội công nhận là bài tập mang tính dân tộc. Trung tâm trường sinh đạo chuyển thành trung tâm trực thuộc UNESCO Việt Nam. Năm 1999, Viện Thể dục thể thao tổ chức hội thảo về bài tập Trường sinh đạo. Phong trào lan rộng trên khắp cả nước.--PageBreak--

Những người cải tử hoàn sinh

Người thủ lĩnh năm xưa giờ đã đi xa, đã lưu danh vào thiên cổ. Một nửa cuộc đời của ông chính là người vợ hiền thảo, người bạn đời ân tình, tri âm tri kỷ của ông là bà Hoàng Thị Lam, nguyên Vụ phó ở Bộ Ngoại giao giờ đang tiếp tục thay ông làm Giám đốc UNESCO Thái Cực trường sinh.

Tôi gặp bà giữa những ngày cuối tháng 9 vô cùng bận rộn để chuẩn bị cho ngày đại lễ của Hội người cao tuổi trình diễn TCTS. Công việc dường như chất đầy trong căn phòng nhỏ bé ở tầng một ngôi biệt thự Pháp cổ, nơi gia đình bà dành làm văn phòng cho TCTS. Tôi hỏi bà về những câu chuyện thực hư về liệu pháp kỳ diệu mà TCTS mang đến cho con người.

Bà Lam chậm rãi kể về một vài ví dụ khiêm nhường trong vô số những môn đồ nổi tiếng của bà: Ngay từ những năm đầu tiên khi TCTS được phổ biến thì các đồng chí Lê Quang Đạo, Võ Nguyên Giáp, Vũ Oanh, Nguyễn Đức Tâm, và nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã đến với TCTS như một môn thể thao hữu ích. Và hơn chục năm nay, họ gắn bó với TCTS như một liệu pháp tuyệt vời cho sức khoẻ.

Ông Nguyễn Đức Tâm- nguyên Ủy viên Bộ Chính trị- Trưởng ban tổ chức Trung ương vốn là một người gầy gò ốm yếu, cuộc đời hoạt động cách mạng gian khổ, từng bị giam cầm ở nhà tù Côn Đảo, đã mắc những bệnh vô cùng hiểm nghèo về thận, gan, tim mạch. Nhờ luyện tập chăm chỉ các bài tập TCTS ông đã duy trì được sức khoẻ và đẩy lùi bệnh tật.

Trong cuốn sách của ông Song Tùng có viết về hiệu quả khi tập TCTS: “Những người ngày nào cũng tập một lần khoảng từ 8 đến 15 phút, chỉ sau 3 tháng sức khoẻ tăng lên, da thịt hồng hào, ăn ngon, ngủ tốt, rất ít ốm đau cảm vặt. TCTS làm lưu thông khai toả những huyệt đạo, tạo nên sự luân chuyển, âm dương hài hoà”.

Và đây là những câu chuyện thần diệu do TSTS mang lại cho rất nhiều môn đồ trên cả nước. Đó là trường hợp cải tử hoàn sinh của chị Lê Hồng Yến, bán hàng ở chợ Đồng Xuân. Mới ngoài 40 tuổi chị đã mắc quá nhiều căn bệnh quái ác như: béo phì, khớp đớp vào tim, nằm một chỗ không đi lại được. Do uống nhiều thuốc Tây nên chị bị loét hành tá tràng, nặng đến mức có biểu hiện ung thư. Lại thêm sỏi mật, sỏi thận đã khiến cho chị và gia đình chỉ còn nghĩ tới cái chết nhỡn tiền.

Nghe nói công dụng của TCTS, chị Yến tìm đến CLB dưỡng sinh do ông Song Tùng hướng dẫn. Từ đó cuộc đời chị đã bước sang một trang mới. Không những bệnh tật được đẩy lùi, chị say mê TCTS đến mức "tu luyện đạt đạo" tình nguyện trở thành thầy giáo dạy TCTS.

Anh Nguyễn Như Thục, 54 tuổi, ở Bắc Ninh cũng là một trường hợp nhờ tập TCTS mà từ "cõi chết" trở về. 7 năm đi chiến trường, anh Thục bị chấn thương sọ não, di chứng của nó khiến cơn đau đầu hành hạ anh kinh niên. Một nửa người anh gần như bị tê dại, liệt vì đau. Anh đã tìm đến với TCTS trong lúc tuyệt vọng nhất về bệnh tật. Không ngờ chỉ một năm sau, từ một anh thương binh đau ốm anh trở nên khỏe mạnh như tìm được thần dược.

Chuyện của anh trở thành sự kiện của cả xã Song Hồ huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Bà con ở đây đã tha thiết nhờ anh Thục tập TCTS cho họ. Từ kết quả của từng trường hợp cụ thể ở trong làng bị bệnh nặng mà qua khỏi nhờ tập TCTS, tiếng lành đồn xa, huyện Thuận Thành đã có 30 xã say mê luyện tập TCTS.

Ông Nguyễn Thế Lục, bà Cát ở thôn Đạo Tú, xã Song Hồ v.v... nhờ tập TCTS mà đã thấy được hiệu quả thần kỳ của phương pháp này mang lại.

Anh Nguyễn Trọng Hải, một “tín đồ” của heroin, bao lần cai nghiện không thành, khuynh gia bại sản, vợ bỏ mặc, đã đến với TCTS và điều thần diệu đã xảy ra khi anh đoạn tuyệt được với ma tuý, tái hoà nhập cộng đồng và trở thành "sư phụ" cho những môn đồ tìm đến TCTS để cai nghiện, tái hoà nhập cộng đồng.

Không thể kể hết ra đây những trường hợp nhờ TCTS mà cải tử hoàn sinh. Chỉ có điều một bằng chứng sống động nhất hiện nay cho thấy TCTS đã và đang đi vào đời sống sinh hoạt của đông đảo người dân 54 tỉnh, thành trên cả nước và đang tiếp tục lập nên những kỳ tích mới cho sức khỏe của con người

Nguyên Bình
.
.
.