Biệt động thành và cuộc chiến giữa sào huyệt địch

Thứ Sáu, 02/09/2005, 09:04

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn năm  Mậu Thân 1968 được đánh giá là đỉnh cao của biệt động thành về sức đột phá tấn công, về nghệ thuật chiến đấu trong lòng địch và đặc biệt là tinh thần cán bộ chiến sĩ trong chiến dịch này.

Trong suốt 30 năm kháng chiến oanh liệt vì độc lập và thống nhất Tổ quốc, các đơn vị biệt động Sài Gòn - Gia Định đã nêu cao khí phách anh hùng, vận dụng nghệ thuật quân sự đầy sáng tạo để làm nên những chiến công bất hủ.

Những trận đánh huyền thoại

Hơn 37 năm sau nhưng cả thế giới vẫn nhìn lại trận đánh Mậu Thân  của các chiến sĩ biệt động Sài Gòn - Gia Định như một chiến công thần thoại. Với 88 chiến sĩ trực tiếp chiến đấu độc lập giữa sào huyệt địch họ đã dùng một một lượng vũ khí ít ỏi chống trả lại xe tăng, thiết giáp, máy bay và lực lượng địch quân đông hơn gấp mấy chục lần. Năm mục tiêu đầu não của chính quyền Mỹ, Nguỵ như Dinh Độc Lập; Đại sứ quán Mỹ; Bộ tổng tham mưu nguỵ; Bộ tư lệnh hải quân nguỵ đã bị tấn công khống chế trong nhiều giờ đồng hồ, tổn thất của quân địch sau trận đánh này là hết sức nặng nề hơn bất cứ giai đoạn nào trước đó. Lần đầu tiên lực lượng biệt động thành đã tạo ra một trận đánh ác liệt ngay trên đường phố thủ đô của chính quyền Mỹ, Nguỵ buộc chúng phải co cụm lại nhiều giờ trong chính sào huyệt của mình.

Ý chí và xương máu của các chiến sĩ biệt động thành đã dựng nên những tượng đài bất tử,  16 đồng chí của Đội 11 hy sinh sau 7 giờ chiếm giữ trận địa đổi lại con số hơn 150 quân địch bị thương và tử  vong. Người duy nhất của Đội biệt động 11 còn sống sót là đồng chí Ba Đen (Ngô Thành Vân), người chỉ huy dũng cảm này đến phút sau cùng khi quân địch được đổ quân bằng trực thăng tràn ngập toà nhà vẫn còn cố giật nụ xoè trái thủ pháo để chống trả trước khi ngất đi và bị địch bắt giữ.

Bà Dương Thị Phiên (trái) và bà Đặng Thị Thiệp.

Chịu thương vong ít hơn so với Đội 11 nhưng khi tấn công vào thủ phủ nguỵ quyền là Dinh Độc lập, 15 chiến sĩ Đội 5 (có một nữ) đã vấp phải sự chống trả của số đông quân địch bảo vệ mục tiêu này. Sau khi khối thuốc nổ dùng để phá cổng bị sự cố không nổ bọn địch từ nhiều phía tràn ra khiến các anh, chị phải triển khai đội hình chiến đấu ngay trên đường phố Nguyễn Du. Mặc dù rơi vào tình thế không cân sức cả về người và vũ khí nhưng Đội biệt động 5 vẫn kiên cuờng chiến đấu hơn 24 giờ đồng hồ (từ 1giờ 45 ngày 31/1 đến rạng sáng ngày 1/2). 8 đồng chí đã hy sinh trong đó có đồng chí Lê Tấn Quốc làm nhiệm vụ chốt chặn trên lầu 3 của ngôi nhà cao tầng 56 Thủ Khoa Huân bị trúng đạn nằm chết trên tấm ô-văng phía hậu, đến sau ngày giải phóng mới phát hiện bộ hài cốt và khẩu súng AK nơi đây. Anh đã được truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào tháng 11/1978. Số còn lại gồm 7 đồng chí trong Đội 5 rút về cố thủ ở tầng 5 ngôi nhà 108 Gia Long (Lý Tự Trọng) sau đó vì kiệt sức đã rơi vào tay giặc. Đánh đổi cho những tổn thất của Đội 5 là có hơn 100 quân địch chết và bị thương, 3 chiếc xe bị các anh dùng B40 bắn cháy cùng sự kinh hoàng của tổng thống Thiệu và bọn chỉ huy ở phủ đầu rồng.

Thầm lặng sau những chiến công

Điều khiến cho chính quyền Mỹ nguỵ thắc mắc suốt nhiều năm là không hiểu bằng cách nào mà Việt cộng đưa được một lượng lớn vũ khí vào cất giấu giữa trung tâm thành phố để thực hiện trận tiến công nổi dậy Mậu Thân (?) mặc dù sau đó chúng đã khám phá ra nhiều căn hầm bí mật ở một số nơi trong đó có căn hầm ở nhà của ông Mai Hồng Quế tại địa chỉ 280/70 Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu, quận 3).

Mai Hồng Quế là cái tên đồng chí Trần Văn Lai đã sử dụng trong nhiều năm hoạt động công khai dưới lớp vỏ nhà thầu khoán trang trí nội thất thường trực của phủ tổng thống. Qua sự bố trí của tổ chức đồng chí Lai có một vỏ bọc khá tốt khi làm cháu rể của một thương gia giàu có ở Sài Gòn, người vợ và cũng là người đồng đội yêu thương của ông - bà Phạm Thị Phan Chính đã hết sức giúp đỡ để ông trở thành nhà thầu khoán Mai Hồng Quế có công lệnh ra vào dinh Độc Lập bất cứ lúc nào.

Bằng vỏ bọc trên đồng chí Lai  đã ra vào căn cứ ở ngoại thành Củ Chi trong nhiều năm để phục vụ kinh tài, đưa đón cán bộ, xây dựng cơ sở hoạt động nội thành nhưng nhiệm vụ quan trọng nhất mà ông được giao là chuẩn bị hầm vũ khí cho cuộc tiến công Mậu Thân. Việc này ông đã tiến hành gần 3 năm kể từ lúc được chỉ thị.

Năm 1965 ông mua căn nhà nhỏ ở địa chỉ trên rồi lấy cớ sửa chữa hệ thống hầm cầu ông đưa thợ về đào bới nền nhà lên để kiến tạo căn hầm bí mật này. Cái khôn khéo của ông là nắp hầm được thiết kế ngay giữa nhà bằng 6 miếng gạch bông, nhưng khi đậy nắp lại thì  nền gạch trống trải nhưng liền lạc bày ra trước mắt mọi người, nơi chẳng ai ngờ đến là hầm bí mật. Công việc thật vất vả khó khăn nhưng cũng giúp ông tạm quên đi nỗi buồn sau cái chết của người vợ thương yêu - Chị Chính đã qua đời trước đó 1 năm sau cơn bạo bệnh.

Cũng thời gian này khi ra vào căn cứ ngoại thành để nhận chỉ thị của cấp trên ông được giới thiệu quen với cô Đặng Thị Thiệp con của đồng chí Đặng Hạnh (một chiến sỹ cách mạng lão thành từ thời du kích Ba Tơ). Nhận thấy việc có một người phụ nữ bên cạnh sẽ làm “cứng” hơn cho vỏ bọc nhà thầu khoán của ông đồng thời cả hai cũng có cảm tình với nhau, tổ chức đã chấp nhận cho ông Lai cùng cô Thiệp chung sống vợ chồng.

Bà Đặng Thị Thiệp người vợ kế đã sống cùng ông gần 40 năm cuối đời, sinh cho ông  6 người con hiện đang ở phường Tân Định, quận 1, Tp.HCM, kể lại:  “...Sau trận đánh Tết Mậu Thân ông Lai  trốn về ở nhà cơ sở còn bà và hai đứa con đầu về thuê nhà ở khu Ngã ba Chú Ía (quận Gò Vấp) để tránh sự lùng bắt của địch. Thỉnh thoảng buổi tối ông về thăm vợ con và ngủ trong “hầm nổi” (trên trần nhà). Năm 1972, ông Lai khai mình là dân Quảng Ngãi (quê hương của bà Thiệp) và bọn cảnh sát đã chuyển ông về giam ở miền Trung.Mặc dù bị tra tấn, đánh đập nhưng ông lại giả bệnh thần kinh để qua mặt bon địch không khai báo. Cho đến ngày giải phóng Quảng Ngãi ông mới được giải thoát khỏi ngục tù..”

Sau ngày miền Nam giải phóng đồng chí Trần Văn Lai trở lại công tác ở Bộ tư lệnh thành, tham gia tiếp quản các kho vũ khí. Khi tình hình trật tự xã hội ổn định, ông quay về công tác ở Phòng tổng kết chiến tranh, viết sử. Tuy nhiên vì sức khoẻ bị ảnh hưởng nặng sau những năm tháng tù đày, người thương binh loại 1/4 đành chia tay đồng đội để nghỉ hưu vào năm 1981 khi vừa bước qua tuổi 60. Những năm tháng còn laị ông sống một cuộc đời bình dị với gia đình và con cháu ở căn hộ số 85 Nguyễn Hữu Cầu, phụ giúp bà Thiệp trông coi xe rau má, quầy nước mắm, tuy vậy ông vẫn dành nhiều thời gian để về căn nhà có căn hầm chứa vũ khí năm xưa tiến hành việc khôi phục di tích lịch sử nơi đây. Công việc sắp hoàn thành thì ông qua đời sau cơn bạo bệnh vào năm 2002 để lại nhiều thương tiếc trong lòng những người thân và các đồng chí, đồng đội.

Tháng 4/2005 vừa qua nhân kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam, căn nhà di tích lịch sử này chính thức mở cửa cho người dân tham quan. Cũng trong dịp này Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến thăm và tặng ảnh lưu niệm có chữ ký cho di tích này

Nguyễn Đặng
.
.
.