Bài học về quản lý thực phẩm sau “vụ Chin-su”

Thứ Năm, 11/08/2005, 14:05

"Vụ" nước tương Chin-su bị Cơ quan An toàn thực phẩm liên bang Bỉ khuyến cáo có chứa độc tố gây ung thư (3-MCPD) với hàm lượng cao đã tạm khép lại với việc Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) thừa nhận, hàm lượng chất 3-MCPD trong sản phẩm này đạt chuẩn cho phép. Tuy nhiên, vấn đề lúc này là cách quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng đối với các loại nước chấm, rộng hơn là đối với thực phẩm.

“Phiếu kết quả thử nghiệm” ngày 22/6/2005 của Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3, thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam cho thấy, nước tương Chin-su đạt tiêu chuẩn Việt Nam mà Bộ Y tế ban hành. Nhưng phần cuối văn bản trên có ghi chú: “Các kết quả thử nghiệm ghi trong phiếu này chỉ có giá trị đối với mẫu do khách hàng gửi đến”.

Như vậy, điều quan trọng là tính pháp lý của mẫu thử. Phải làm thế nào để mẫu thử thực sự là đại diện cho chất lượng sản phẩm, phản ánh chất lượng của nguyên một mẻ sản phẩm xuất xưởng. Lúc đó mới đủ cơ sở khẳng định sản phẩm bán ra đạt yêu cầu.

Hiện tại, các nhà phân tích, kiểm định không cần biết xuất xứ mẫu thử. Mẫu thử do đơn vị sản xuất gửi đến. Mẫu đó có phải là của lô hàng mà kết quả kiểm định này được lấy để làm hồ sơ chất lượng không, điều đó chỉ có nhà sản xuất mới biết.

Riêng về trường hợp nước tương Chin-su, người tiêu dùng vẫn có thể tin tưởng. Bà Lê Thị Nga, Giám đốc nghiên cứu phát triển của Vitecfood, cho biết: Hàm lượng các chất sinh ra trong quá trình sản xuất nước tương, trong đó có chất 3-MCPD, có thể khác nhau giữa các mẻ sản xuất và công nghệ sản xuất. Vì vậy, đơn vị sản xuất này đã cẩn thận kiểm định chất 3-MCPD trên từng mẻ sản phẩm ra lò. Hơn nữa, Vitecfood vẫn được coi là đơn vị trang bị máy móc hiện đại, có thể tạo được sự ổn định về nồng độ các chất giữa các mẻ.

Những thiết bị hiện đại như thế này vẫn còn thiếu

Theo ông Đỗ Việt Hà, Giám đốc Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ trẻ, với các lĩnh vực sản xuất khác thì Nhà nước có văn bản quy định chi tiết về dụng cụ, nguyên vật liệu, quy trình sản xuất,... nhưng với nước tương, chưa có văn bản nào quy định những điều này. Cũng theo ông Hà, dụng cụ sản xuất có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, kể cả việc sản sinh các độc tố.

Đi sâu vào “vụ Chin-su”, có thể phát hiện ra một điều: Trong các cơ quan quản lý và chuyên môn của Nhà nước không có đơn vị mang thẩm quyền lấy mẫu ngẫu nhiên; và không có lực lượng nào cưỡng bức hủy lô hàng không bảo đảm tiêu chuẩn, kể cả khi trong mẫu nước mắm thử bị phát hiện có phân đạm urê! “Doanh nghiệp tất nhiên sẽ đưa sản phẩm tốt của mình đi kiểm tra!” - Bà Phạm Kim Phương, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ phân tích thí nghiệm (ASE), nơi kiểm định các sản phẩm chế biến thực phẩm cho các doanh nghiệp, nói.

Trong buổi Trung tâm Dịch vụ phân tích kiểm định làm việc với báo chí, tình cờ có một cuộc điện thoại của nhân viên Phòng xét nghiệm gọi đến giám đốc. Nội dung cuộc điện thoại là, phát hiện đạm phân urê trong mẫu kiểm định nước mắm(!). Bà Phương cho biết, một doanh nghiệp sản xuất đã gửi đến Trung tâm 9 mẫu sản phẩm để xét nghiệm. 5 mẫu xét nghiệm đầu tiên đều bị phát hiện có đến gần 10% độ đạm urê trong các sản phẩm này. Ban đầu doanh nghiệp phản ứng không chấp nhận kết quả, nhưng trước chứng cứ của máy móc, doanh nghiệp này thú nhận rằng đã... thu gom sản phẩm của các doanh nghiệp khác đến xét nghiệm.

Theo bà Phương, người ta cho đạm urê vào nước mắm là để tăng độ đạm. Hàm lượng Nitơ trong phân đạm urê sẽ đánh lừa được máy móc phân tích và khẩu vị người tiêu dùng. Máy móc sẽ cho kết quả lượng đạm đạt yêu cầu, còn người ăn thấy cũng đầy đủ... vị ngọt. Cách đây không lâu, nước mắm do một doanh nghiệp xuất khẩu đã bị nước ngoài trả về. Nhưng đó là chuyện với “nước người”, còn ở nước ta, ai dám đảm bảo rằng, nước chấm không đạt chất lượng không thể len lỏi vào thị trường.

“Chước” lấy mẫu ngẫu nhiên và sự “đe nẹt” của người tiêu dùng?

Xem ra như một sự thay đổi mạnh mẽ đang đặt ra đối với các nhà quản lý, trước khi trông chờ vào việc tự giác nâng chất lượng nước chấm của người sản xuất. Trong công tác kiểm tra chất lượng, phương pháp hiệu quả nhất chắc chắn là chọn mẫu một cách ngẫu nhiên. Nếu việc kiểm tra trong lĩnh vực chế biến thực phẩm được thực hiện theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên một cách thường xuyên, chắc chắn sẽ hạn chế được các “chiêu” đối phó của doanh nghiệp, nhờ đó sẽ phản ánh trung thực hơn tình hình sản xuất, chất lượng sản phẩm.

Theo bà Phạm Kim Phương, kể cả Sở Khoa học và Công nghệ cũng không có chức năng kiểm tra, lấy mẫu sản phẩm một cách ngẫu nhiên, mà quyền làm điều này sẽ thuộc Bộ Y tế, cụ thể là Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, và Thanh tra Bộ.

Bên cạnh việc buông lỏng trong quản lý của cơ quan chức năng, sự dễ dãi của người tiêu dùng phải chăng là nguyên nhân dẫn đến sản phẩm kém chất lượng? Không thể hoàn toàn trông chờ vào đạo đức của người sản xuất, mà còn phải giành lấy sự tôn trọng khách hàng của họ

Trực Hưng
.
.
.