Ai đã tàn sát rừng đại ngàn Hương Sơn, Hà Tĩnh?
Giấy phép cho khai thác 10.000m3, đầu nậu thuê đốn 40.000-50.000m3, nhập chung cả gỗ khai thác phi kỹ thuật vào gỗ hợp pháp để được đóng dấu búa kiểm lâm.
Tháng 6/2005, trong báo cáo “Điều tra đa dạng sinh học vùng dự án bảo tồn đa dạng sinh học ở dãy núi Bắc Trường Sơn”, các nhà khoa học của Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã xếp rừng Hương Sơn, Hà Tĩnh có tầm vị trí ngang bằng, đồng thời là cầu nối với 3 khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng nhất trong khu vực Đông Nam Á là Vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An), Vườn quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh) ở Việt Nam và Khu bảo tồn thiên nhiên Na Kai - Nậm Then của nước bạn Lào. Đây là khu vực rừng có tính đa dạng sinh học rất cao, đồng thời là rừng phòng hộ đầu nguồn của các con sông Ngàn Sâu, Ngàn Trươi, Ngàn Phố, những chi lưu của sông La, con sông lớn nhất của tỉnh Hà Tĩnh.
Hơn thế nữa, vùng lõi Rào Àn của rừng Hương Sơn còn được các nhà khoa học quốc tế đánh giá là “một trong những cánh rừng nguyên sinh đẹp nhất thế giới”. Khu vực xung quanh đỉnh Pù Hùng Lều (cao 2.100m), giáp bản Nacađốc, huyện Cămcớt, tỉnh Bolikhămxay (Lào) đến nay vẫn hầu như chưa hề có dấu chân người. Ở đó vẫn tồn tại những thảm động vật lưỡng cư dày đặc, những đàn bướm khổng lồ cùng nhiều loại động vật quý hiếm đã được đưa vào sách đỏ, có loài tưởng chừng đã hoàn toàn bị diệt chủng. Không nghi ngờ gì nữa, rừng Hương Sơn là một kho báu vô giá đầy sức mê hoặc đối với những nhà sinh vật học.
Chính vì thế, rất đông những nhà khoa học trong và ngoài nước đã đổ về nghiên cứu và đề xuất hàng loạt biện pháp nhằm bảo vệ khu vực rừng quý hiếm này. Năm 2001, Chính phủ Đan Mạch đã tài trợ kinh phí để thực hiện Dự án “Bảo tồn đa dạng sinh học dãy núi Bắc Trường Sơn”. Từ năm 1999 đến nay, rất nhiều đoàn nghiên cứu khoa học hỗn hợp đã tìm đến Hương Sơn. Năm 2005, có một đoàn 30 nhà khoa học từ các nước Anh, Hà Lan, Mỹ, Australia, Nga đã tình nguyện dựng lều ở những 9 tháng ròng rã trong vùng lõi rừng Hương Sơn để khảo sát nghiên cứu. Ngày 23/1/2006, GS Võ Quý và nhiều nhà khoa học thuộc Trung tâm Tài nguyên môi trường Quốc gia đã làm việc với UBND tỉnh Hà Tĩnh nhằm bàn bạc sáp nhập vùng lõi rừng Hương Sơn vào Vườn quốc gia Vũ Quang, biến nó thành khu dự trữ sinh quyển thế giới đề nghị UNESCO công nhận.
Trong khi các nhà khoa học đang hết sức đau đầu để tìm cách gìn giữ thì ngay tại địa phương, rừng Hương Sơn lại vẫn đang bị tận diệt từng ngày, mọi biện pháp tuyên truyền, ngăn chặn nhằm gìn giữ nó của chính quyền địa phương vẫn hầu như bất lực. Tháng 9/2004, một báo cáo của UBND huyện Hương Sơn đã ghi nhận: tổng diện tích đất có rừng trên toàn huyện chỉ còn khoảng 70,4 ngàn ha trên tổng diện tích 90,7 ngàn ha đất rừng. Diện tích đất rừng có... rừng giảm đáng kể nhưng cũng chưa nghiêm trọng bằng sự suy kiệt của chất lượng rừng, bởi thực tế (khác xa những con số trong các báo cáo vẫn đầy lạc quan) thì ngoài khoảng 10.000 ha vùng rừng lõi nguyên sinh Rào Àn, giáp Vườn quốc gia Vũ Quang, những khu vực rừng còn lại hầu như đã rơi vào tình trạng nghèo hoặc nghèo kiệt.
“Trong trắng ngoài xanh”, nhìn bên ngoài rừng núi vẫn xanh um và tươi tốt nhưng thực chất đó chỉ là màu xanh của thảm thực bì, còn gỗ tốt thì đã hoàn toàn biến mất. Hai xã Sơn Kim I, Sơn Kim II vẫn được ghi nhận là còn 43.000ha rừng nhưng theo xác nhận của ông Trần Quốc Việt, Chủ tịch xã Sơn Kim I, và theo khảo sát của chúng tôi, thì “có tìm đỏ mắt cũng chẳng có cây gỗ nào”.
Năm 1998, vùng Khe Dầu, xã Sơn Kim I, gỗ quý vẫn đứng sừng sững ngay cạnh nhà dân, còn nay muốn tìm ít gỗ làm nhà, những tay tiểu lâm tặc ở địa phương phải đi sâu vào thêm 19km. Khu vực Danh Chắn, xã Sơn Kim II, 10 năm trước là rừng nguyên sinh, nay chỉ còn đồi trọc với những khoảnh rừng tái sinh lèo tèo suy kiệt. Tại xã Sơn Hồng, 17.000 ha rừng nguyên sinh đã bị đốn sạch, nhường chỗ cho dây leo cỏ dại.
Gỗ lậu giấu trong rừng bị phát hiện.
Theo đánh giá của một số nhà chuyên môn hiểu biết sâu về thực trạng rừng Hương Sơn thì trữ lượng gỗ của toàn bộ rừng trên địa phương này chỉ còn lại chừng từ 2 - 2,5 triệu m3 gỗ, trong khi con số thống kê của Phân Viện Điều tra quy hoạch Bắc Trung Bộ vào năm 1994 đánh giá trữ lượng này là trên 9 triệu m3! Trên 70% rừng đã mất, đó chính là hậu quả của cái gọi là “phương án khai thác rừng để bảo vệ và phát triển bền vững” vẫn đang được áp dụng trong hàng chục năm qua!

Chống lâm tặc - cuộc chiến không cân sức
Khoảng năm 1996, giấy phép khai thác gỗ theo chỉ tiêu ở Hương Sơn chỉ còn được cấp cho duy nhất một chủ rừng là Lâm trường Hương Sơn, sau đổi tên thành Công ty Lâm nghiệp dịch vụ Hương Sơn. Công ty đã bán lại giấy phép cho các đầu nậu gỗ để họ tự tổ chức khai thác. Việc giám sát cả về địa chỉ khai thác (theo điều tra thiết kế) lẫn số lượng, chủng loại, chất lượng gỗ đều vượt quá tầm giám sát của chủ rừng.
“Dễ làm khó bỏ”, đầu nậu gỗ gần như toàn quyền chọn lựa và chặt trụi những vùng nhiều gỗ quý, bất chấp nó có nằm trong khu vực đã quy hoạch thiết kế hay không. Hàng loạt những cánh rừng toàn lim, táu, dổi... những loại gỗ đặc sản của Hương Sơn đã bị chặt trụi, gần như không còn cơ hội tái sinh. Giấy phép cho khai thác 10.000m3, đầu nậu thuê đốn 40.000-50.000m3, nhập chung cả gỗ khai thác phi kỹ thuật vào gỗ hợp pháp để được đóng dấu búa kiểm lâm.
Tiếp đó, các đầu nậu này lại thu mua giá rẻ thêm hàng chục ngàn mét khối gỗ lậu khác của những tay tiểu lâm tặc địa phương và cũng nhập luôn vào cùng gỗ hợp pháp. Dưới sự tiếp tay của một số cán bộ kiểm lâm, gỗ lậu cứ ung dung ra khỏi cửa rừng để lại sau lưng những cánh rừng già đã trở thành đất hoang đồi trọc.
Cá lớn nuốt cá bé, dần dần nguồn lợi gỗ rừng bị gom về một mối, thu vào tay các “đại gia” như Thu "thương binh", Hùng “bút”, Hải “quê”, Hùng “nhân”, Hoàn... Những “ông trùm” này ít khi xuất hiện và tự đứng ra thu gom mà giao lại các công đoạn buôn gỗ lậu cho đàn em là những người địa phương ở các xã có rừng. Hàng loạt thủ đoạn tinh vi đã được chúng tung ra. Trận lũ quét kinh hoàng năm 2002 vừa xảy ra, Công ty Lâm nghiệp dịch vụ Hương Sơn đã có ngay một hồ sơ xin khai thác tận thu gỗ chết đứng hậu quả của lũ quét trong khu vực rừng lõi Rào Àn. UBND tỉnh đã đồng ý. Chỉ suýt nữa, lâm tặc sẽ tha hồ đưa ra khỏi rừng một cách hợp pháp hàng ngàn mét khối gỗ chặt lậu cả trước và sau lũ. Nhưng may mắn “dự án” này đã bị huyện phát hiện và ách lại.--PageBreak--
Tiếp đó, năm 2003, dự án Nhà máy Thủy điện Hương Sơn đặt ở khu vực Nước Sốt, ngay trong vùng rừng lõi thuộc địa bàn xã Sơn Kim I được phê duyệt. Để thi công nhà máy, UBND tỉnh đã cho phép mở một con đường 7m, lộ giới 3m mỗi bên xuyên qua 21km rừng nguyên sinh. Nhưng khi khai thác, lộ giới này đã được tùy tiện mở rộng thêm hàng chục, thậm chí 100m mỗi bên, chặt trái phép thêm hàng trăm hécta rừng gỗ quý. Khoảng tháng 3 đến tháng 6/2005, trung bình mỗi đêm đều có 10-12 xe gỗ ra khỏi cửa rừng.
Chủ tịch xã Sơn Kim I Trần Quốc Việt cho biết, xã đã từng ách được không ít xe gỗ không có dấu búa nhưng vẫn không xử lý được. Không hiểu bằng cách nào đó, tất cả số gỗ lạt này sau đó đều hợp pháp hóa được giấy tờ hoặc được can thiệp để trở nên hợp pháp, việc xử lý vượt khỏi quyền hạn của xã nên đành phải thả. Dư luận hoài nghi: phải chăng dự án xây nhà máy điện chỉ là một cái cớ để phá rừng, bởi lẽ tổng kinh phí xây nhà máy điện chỉ 1.000 tỉ đồng, trong khi nguồn lợi thu được từ việc khai thác tối thiểu 500 ha rừng cả hợp pháp lẫn bất hợp pháp phải lên tới từ 7.000 đến 10.000 tỉ đồng!
![]() |
|
Gỗ khai thác lậu bị lũ cuốn ra khỏi rừng năm 2002. |
Tháng 6/2004, phát hiện một lượng gỗ lậu lớn trong khu vực Nước Lạnh, UBND xã Sơn Tây đã báo ngay với UBND huyện và mời Công an, Kiểm lâm phối hợp lập đoàn thu gom. Toàn bộ chi phí cho hàng chục người đi lại và ăn ở 2 ngày 2 đêm trong rừng, chi phí thuê xe chở gỗ... xã mượn tạm của chính Trưởng ban Lâm nghiệp xã (cán bộ không lương). Việc phát mãi số gỗ này do huyện chịu, chỉ trích lại cho xã một phần nhỏ không đủ bù vào số chi phí đã bỏ ra. Chủ tịch xã Sơn Tây Nguyễn Văn Tiến chua chát: “Ít, nhưng gần hai năm rồi, số tiền được trích vẫn chưa thấy đâu. Tiền mượn trước của anh em, xã vẫn... nợ!".
Vì sự rắc rối của các quy định, quan trọng là không biết tìm đâu ra kinh phí để tổ chức lực lượng truy quét thu gom, hầu như chính quyền các xã đều miễn cưỡng ngó lơ chỗ khác, không mặn mà gì với việc thực thi pháp luật mà lẽ ra trách nhiệm họ phải làm. Điều này, cả hai ông chủ tịch Sơn Tây và Sơn Kim I đều thừa nhận, kèm theo một tiếng thở dài: “Biết làm sao được? Chịu!”.
Xã bất lực, huyện cũng không mấy quyết tâm. Ngày 18/1/2005, một người dân xã Sơn Kim II báo với lãnh đạo huyện: “Tại các tiểu khu 70, 79 thuộc xã Sơn Kim I và tiểu khu 72, 78 xã Sơn Kim II có một nhóm người đang chặt phá trái phép với quy mô lớn!” Thường vụ Huyện ủy họp bàn và lập ngay một đoàn kiểm tra rầm rộ, có cả Công an, Kiểm lâm, Phòng NN&PTNT, Biên phòng... mang theo cả camera và được chính người dân báo tin dẫn đường vào rừng ngay. Hàng trăm phiến gỗ lậu đã bị phát hiện, những lâm tặc bị nhận diện và ghi hình ngay tại hiện trường. Một vụ án phá rừng quy mô đáng bị khởi tố với đầy đủ nhân chứng, vật chứng... đã lộ rõ. Nhưng khi xử lý số gỗ lậu, sự rắc rối và những điều đáng ngờ lại xuất hiện.
Vận động hết cách, đoàn kiểm tra vẫn không thể điều được xe vào rừng để chở số gỗ lậu ra. Là chủ rừng bị mất gỗ, Công ty Lâm nghiệp dịch vụ Hương Sơn vẫn từ chối vì lý do không có xe. Điều xe của dân, dân bị các “đại gia” lâm tặc khống chế nên cũng từ chối nốt. Bất đắc dĩ, huyện phải áp dụng biện pháp cưỡng chế mới trưng dụng được xe, gỗ lậu mới được chuyển ra ngoài.
Mặc dù hiện trường vụ chặt phá rừng trái phép đã bị phong tỏa nội bất xuất, ngoại bất nhập, nhiều nhân chứng lẫn những người có trách nhiệm vẫn phát hiện ra rằng ngay trong đêm đó, ông Lợi, Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn đã âm thầm cùng một số nhân viên kiểm lâm, nhân viên công ty tìm vào tận nơi giấu gỗ. Điều này khiến mối ngờ vực tăng cao, bởi sau đó, một phần gỗ lậu đã được trích ra xử lý riêng với lý do là chúng đã được kiểm lâm phát hiện và lập biên bản xử lý từ trước (?!).
Bí thư Huyện ủy, ông Nguyễn Khắc Thứ, yêu cầu Công an huyện cho gọi tổ 8 nhân viên phân trường khu vực lên để làm rõ thực hư. Ý kiến này đã bị nhiều người phản đối mạnh mẽ. Họ cho rằng đó là việc của kiểm lâm chứ không phải của Công an!
Ù xoẹ nhiều ngày, cuối cùng số gỗ lậu khoảng 150m3 đã “teo” lại chỉ còn hơn hơn 34m3! Người dân và nhiều cán bộ lãnh đạo tham gia đoàn kiểm tra thắc mắc, tỏ ý không đồng tình với con số trong bản kết luận thì được nghe giải thích: “Chỉ hơn 30m3 thôi, chắc tại dân tính nhầm”? Ông Phan Văn Đường, Trưởng phòng NN&PTNT, người có mặt ngay từ khi gỗ lậu mới bị phát hiện, phản đối: “Không thể có chuyện tính nhầm”. Còn ông T., người dẫn đường thì tự ái, sau đó đã từ chối không dẫn đường cho các đoàn kiểm tra khác nữa, vì duy nhất một lý do là “chỉ mất công, tôi không tin!”.
Sau vụ này, Bí thư Huyện ủy Nguyễn Khắc Thứ đã nhận được “từ trên tỉnh” một lời khuyên: “Chuyện bé đừng xé ra to”. Còn Phó chủ tịch huyện Phan Thăng Long, người thay mặt huyện ký kết luận vụ việc thì nhận được điện thoại yêu cầu: “Làm gì thì làm, đừng biến vụ này thành vụ án!”. Vụ việc nghiêm trọng đã kết thúc bằng một quyết định không khởi tố vụ án vì “không đủ yếu tố cấu thành tội phạm” do Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Nguyễn Xuân Hiền ký ngày 2/3/2005.
Thắng thế, hai ông trùm gỗ là Hùng "bút” và Hải “quê” đã tìm đến “thăm" Bí thư Huyện ủy Nguyễn Khắc Thứ tại nhà riêng và rót vào tai vị lãnh đạo này một câu đầy mai mỉa: “Chú sắp về hưu rồi, làm chi ba cái chuyện rờ rờ rận rận (ý nói vớ vẩn, vô nghĩa) đó!"
(Còn nữa)

