Tự lấy thân mình làm thí nghiệm khoa học

Thứ Sáu, 15/06/2012, 11:12

Có một truyền thống lâu đời khi các nhà khoa học sử dụng chính bản thân mình như là một vật thí nghiệm nếu họ không tìm bất kỳ ai là tình nguyện viên - hoặc nếu họ cảm thấy là vô đạo đức khi yêu cầu người khác chịu đựng các rủi ro. Tự thí nghiệm mình mang tính anh hùng song có thời kỳ nó cũng bị cho là điên cuồng. Dưới đây là câu chuyện các nhà khoa học dùng chính bản thân mình để trải nghiệm thí nghiệm y, khoa học kỳ thú.

Thí nghiệm tinh hoàn để chứng minh "đau ám thị"

Vào năm 1933, hai nhà khoa học Herbert Woollard và Edward Carmichael đã đo trọng lượng tinh hoàn của mình trong một thí nghiệm khoa học. Tuy nhiên chỉ 1 người trong số họ nén răng chịu đau để hoàn thành thí nghiệm kỳ lạ. Động cơ của thí nghiệm "tự hành xác" này là nhằm hiểu rõ hơn về hiện tượng "đau ám thị" - một hiện tượng huyền bí trong đó chấn thương ở một cơ quan nội tạng có thể gây các cơn đau cùng lúc trong cơ thể.

Ví dụ một cơn đau tim có thể gây ra cảm giác ở cánh tay. Hai vị bác sĩ lưu ý rằng tất cả các cơ quan nội tạng thì "tinh hoàn" là nơi trọn vẹn nhất để phản hồi cơn đau, vì thế sử dụng nó làm thí nghiệm là đúng đắn nhất. Trong quá trình thí nghiệm, vị bác sĩ nằm trên bàn, phơi bày bộ phận sinh dục của mình. Người đồng nghiệp cúi xuống và nắm chặt bìu dái của vị bác sĩ và bóp chặt nó trong lòng bàn tay của mình. Kết quả, họ đã chứng minh rằng chấn thương tinh hoàn không gây cảm giác đau xuyên suốt cơ thể.

Cơn đau tinh hoàn không chỉ lan rộng ở vùng háng mà còn sau lưng vị bác sĩ. Herbert Woollard và Edward Carmichael đã tiến hành một số thí nghiệm biến thể, trong đó họ gây tê thần kinh dẫn đến tinh hoàn nhằm xác định làm cách nào để thay đổi cảm giác và khám phá ra rằng: tinh hoàn là cơ quan nhạy cảm mạnh nhất!

Ăn sâu để kiểm tra việc nhiễm trùng sán

Ngày 10/10/1878, vị bác sĩ người Sicily, Giovanni Battista Grassi, đã tiến hành khám nghiệm tử thi khi ông phát hiện ruột già trong xác chết đã bị thủng vì sán dây (Ascaris lumbricoides) và trứng của chúng. Giovanni Battista Grassi ngay tức khắc nhận ra rằng ông có thể ăn trứng sán dây và chứng minh rằng nó có thể lây nhiễm sán dây vào cơ thể mình theo cách này. Tuy nhiên để tiến hành thí nghiệm đúng cách, đầu tiên Grassi đã tiến hành việc xác định xem liệu mình đã thực sự bị nhiễm hay chưa. Vì thế, ông đã lấy trứng sán dây ra khỏi ruột tử thi và đặt trứng trong phân ẩm nơi đó trứng sán dây có thể sống vô thời hạn.

Sau đó, hàng ngày Grassi đã cẩn thận kiểm tra phân của mình suốt một năm nhằm xác nhận việc mình có bị nhiễm trùng hay không? Cuối cùng, vào ngày 20/7/1879, Grassi tự tin múc khoảng 100 trứng sán trong phân của mình và nuốt trọn chúng vào bụng. Một tháng sau đó, Grassi cảm thấy ruột đau nhói và đã tìm thấy trứng sán trong phân của mình.

Từ thí nghiệm thành công trên, Grassi đã nghiên cứu để bào chế ra thuốc thảo mộc trị giun sán. Tuy nhiên thí nghiệm nuốt giun sán của Grassi khiến cho các nhà nghiên cứu Ký sinh vật kinh hãi. Nhưng có lẽ Grassi còn phải chào thua "hậu bối" người Nhật Shimesu Koino khi vào năm 1922, vị bác sĩ này đã lập kỷ lục nuốt trọn 2.000 trứng sán Ascaris lumbricoides để tự thí nghiệm cho chính mình.

Nhật ký Tử Thần 

Cocaine là thuốc gây mê cục bộ đầu tiên được sử dụng trong y học, nhờ có nó các bác sĩ phẫu thuật có thể tránh phụ thuộc vào các loại thuốc gây mê tổng hợp nguy hiểm hơn. Tuy nhiên thỉnh thoảng bệnh nhân có phản ứng xấu với thuốc. Vì sao nên nỗi? Nhằm chứng minh lý do hình thành nên phản ứng ngược trên, bác sĩ chuyên khoa hậu môn người Nebraska (Mỹ), Edwin Katskee tự chứng minh bằng cách tiêm một liều cocaine vào đêm ngày 25/11/1936. Sau đó Edwin đã viết lại những phản ứng trong người mình trên vách tường của văn phòng ông. Nhưng vì tiêm cocaine quá liều nên Edwin Katskee đã tử vong.

Truyền thông mô tả các dòng lưu ý trên tường của Edwin là "Nhật ký Tử Thần". Một dòng lưu ý có đoạn: "Mắt giãn nhẹ. Tầm nhìn tốt. Đã phục hồi một phần. Bây giờ có thể đứng dậy và hậu trầm cảm là khủng khiếp…" Một dòng khác được Edwin ghi lại bằng nét chữ nguệch ngoạc: "Khoá lâm sàng kéo dài hơn 12 phút". "Tê liệt" là từ cuối cùng mà Edwin viết. Người đời đang tranh cãi liệu cái chết của Edwin là do bị "sốc" thuốc hay chính ông đã tự tử? Mặt khác cái chết của ông còn là một bi kịch khi một trong các đồng nghiệp bác sĩ của ông kết luận rằng "Nhật ký Tử Thần" của ông hoàn toàn không có giá trị khoa học nào cả.

"Chuyến tham quan miền biên ải"

Trong suốt sự nghiệp của mình, nhà tâm lý học xứ Cambridge, Joseph Barcroft đã tự tiến hành thí nghiệm cho chính mình, trong đó ông tự đặt bản thân mình ở rìa ranh giới giữa mất trí và cái chết. Ông gọi đây là "chuyến tham quan vùng biên ải". Một số "chuyến tham quan" đầu tiên của Joseph Barcroft bao gồm việc tình nguyện tiếp xúc với khí axít Hydrocyanic trong Thế Chiến I. Con chó trong phòng hơi ngạt của ông đã qua đời trong vòng 95 giây, còn Joseph Barcroft đã đợi 10 phút khi con chó "ngỏm" trong vòng tay của mình.

Một thập kỷ sau đó, Joseph Barcroft đã tự nhốt mình bên trong một lồng kính kín mít nhằm kiểm tra ảnh hưởng sự sống trong môi trường thiếu oxy. Sau 6 ngày sống trong lồng kính ở độ cao 4.877 mét, toàn bộ cơ thể của ông đã chuyển sang màu xanh. Tuy nhiên, "chuyến tham quan" ấn tượng nhất của Joseph Barcroft đã diễn ra vào năm 1931 khi ông quyết định "đóng băng" để kiểm tra các chức năng tâm thần. Ông đã lột quần áo và nằm xuống một cái bàn trong một phòng lạnh tại Trung tâm nghiên cứu Woods Hole (Massachusetts, Mỹ).

Sau một giờ thí nghiệm, một cảm giác tâm thần kỳ lạ đã diễn ra: mọi cảm xúc đều biến mất. Hơi lạnh đã biến Joseph thành một "tác phẩm khoả thân trắng muốt". Kỳ lạ hơn khi trong buổi diễn thuyết tại Đại học Yale vào năm 1936, Joseph nói rằng: "cảm giác lạnh đột nhiên tan biến nhường chỗ cho sự ấm áp, tôi đang bị nướng trong tủ lạnh". Joseph Barcroft đã sống sót tài tình trong thí nghiệm của mình mà không hề bị đổ bệnh, ông sống đến 74 tuổi và qua đời trong khi đang đi xe buýt.

Bị nhện độc chích

Vào tháng 11/1933, Giáo sư Allan Walker Blair từ Đại học Alabama (Mỹ) đã dùng một cái kẹp để giữ một con nhện "goá phụ đen" cái bấu vào ngón tay trỏ thuộc cánh tay trái của ông. Ngay lập tức con nhện tiêm chất Kitin từ các móng vuốt của nó vào da của Allan, nó vặn xoắn cơ thể từ chiều này sang chiều kia nhằm đưa chất độc Kitin vào sâu trong cơ thể nạn nhân. Allan đã cố gắng giữ con nhện nguyên vị trí trong vòng 10 giây khi mà chất độc của nó ngấm vào trong cơ thể ông. Mục đích cuộc thí nghiệm là nhằm kiểm chứng xem nọc độc của nhện đã làm chết người như thế nào.

Trong vòng vài phút sau khi bị nhện cắn, Allan Walker Blair bắt đầu bị chuột rút cơ bắp nghiêm trọng khiến cho ông cảm thấy khó thở. Hai giờ sau đó, ông quằn quại trên sàn nhà, đổ mồ hôi đầm đìa, buộc phải cấp tốc nhập viện. Trong thời gian đến bệnh viện, huyết áp của ông đã giảm sút đáng kể. Giáo sư Allan xác định rằng bệnh viện đã sử dụng điện tâm đồ để xác định ảnh hưởng của nọc độc nhện đối với tim của ông. Nhưng ngạc nhiên là tim ông vẫn bình thường, không có sự thay đổi gì đáng kể.

Sau một tuần liên tục mê sảng, Allan hồi phục dần dần và được cho phép về nhà. Tuy nhiên vài tuần sau đó, da ông vẫn có cảm giác ngứa ngáy khó chịu. Dựa trên kết quả nghiên cứu của mình, Giáo sư Allan kết luận rằng vết cắn của nhện "goá phụ đen" rõ ràng là "chất độc nguy hiểm đối với con người".

Ăn thủy tinh

Thủa thiếu niên, Frederick Hoelzel đã trải qua một phương pháp giảm cân khá kỳ lạ. Ông đã kèm chế sự thèm ăn của mình bằng cách ăn những thực phẩm không calorie như ngô, mùn cưa, nút chai, lông, a-mi-ăng, tơ nhân tạo và thân cây chuối. Bữa ăn yêu thích nhất của Hoelzel là xé bông thành từng miếng nhỏ để ăn, nó trở thành một phần trong chế độ ăn hàng ngày của ông. Cuộc đời sau của ông, trong suốt thập niên 1920, trong lúc làm việc trong vai trò của một nhà nghiên cứu tại Đại học Chicago, Frederick Hoelzel đã trổ tài ăn những chất bất thường hoặc ăn các loại vật liệu trơ nhằm đo lường xem các chất đi qua ruột người như thế nào? Hoelzel đã nậy sỏi trên vệ đường ngoài phòng thí nghiệm sau đó nuốt trọn nó vào bụng và thấy rằng nó đã…thải ra 52 tiếng đồng hồ sau đó.

Tương tự, sau xấp xỉ 8 giờ đồng hồ, Hoelzel thải ra các vòng bi sắt và các miếng bạc cong. Bột vàng viên…xuất ra 22 ngày sau đó. Các hạt thủy tinh được xuất ra 40 giờ sau đó. Feredick Hoelzel đã tiếp tục thí nghiệm với những vật liệu không ăn được trong suốt năm qua. Chế độ kiêng khem thái quá khiến cho xương của Hoelzel trở nên mỏng manh hơn người thường. Một phóng viên giấu tên từng ghé thăm phòng thí nghiệm của Hoelzel vào năm 1933, đã viết: "Tay ông trắng xanh phơi rõ xương tay xanh xám như sợi chỉ". Feredick Hoelzel chưa bao giờ trở thành một Giáo sư đúng nghĩa tại Đại học Chicago. Báo chí đặt cho Hoelzel biệt danh: "Người dê Billy".

Nhà tiên phong của "điện cực khoái"

Năm 1800, Alessandro Volta công bố phát minh ra pin điện cho phép dòng điện luân chuyển liên tục, đều đặn và ổn định. Nhà vật lý trẻ người Đức Johann Wilhelm Ritter (nổi tiếng bởi khám phá ra ánh sáng cực tím) đã lợi dụng phát minh này để khám phá ra cột điện gắn lên toàn bộ cơ thể của ông. Ritter gắn nó lên lưỡi của mình để tạo ra hương vị chua. Gắn dây điện lên mũi của mình khiến cho ông hắt hơi. Để cho mắt tiếp xúc với cột pin điện khiến cho nhãn cầu mắt tạo ra hiện tượng màu sắc kỳ lạ trong tầm nhìn của ông.

Ritter cũng thí nghiệm tại bộ phận sinh dục của mình bằng cách quấn quanh cơ quan sinh sản bằng một miếng vải ẩm với sữa âm ấm rồi cho dòng điện đi qua. Hiện tượng "của qúy" cương phồng và sau đó xuất hiện "cực khoái". Ritter trở thành nhà tiên phong của "điện cực khoái".

Không dừng lại tại đó, Ritter đã lặp đi lặp lại thí nghiệm của mình làm nhiều lần, khiến cơ thể ông phải chịu đựng trong một thời gian dài buộc phải dùng thuốc phiện để giảm cơn đau. Nhưng mắt của ông bắt đầu suy giảm, tiếp đó là thường xuyên đau đầu, co thắt cơ bắp, tê buốt và đau bụng. Phổi của ông chứa đầy chất nhầy. Lưỡi tạm thời mất cảm giác. Hay lảo đảo vì chóng mặt. Ly bì mệt mỏi nhiều tuần trên giường. Ngạc nhiên là Ritter không dừng mà còn tự hào nữa là khác. Cuối cùng nạn lạm dụng đã tước đi tất cả. Johann Wilhelm Ritter qua đời vì bệnh lao phổi khi mới 33 tuổi.

Chết bằng cách treo cổ

Trong suốt thập niên đầu của thế kỷ 20, trong lúc làm Giáo sư pháp y tại Trường khoa học nhà nước Bucharest, nhà khoa học Nicolae Minovici đã tiến hành một cuộc nghiên cứu toàn diện về cái chết…bằng cách xử giảo. Minovici bắt đầu tự treo mình trong phòng thí nghiệm bằng cách xây dựng một thiết bị treo cổ tự động - nút treo cổ gắn vào một chiếc thòng lọng chạy qua một cái ròng rọc gắn lên trần nhà. Minovici nằm xuống một cái cũi và cho đầu mình vào thòng lọng và rồi kéo mạnh đầu dây thừng xuống.

Khi thòng lọng thắt chặt, khuôn mặt của Minovici chuyển sang màu tím đỏ, tầm nhìn của ông mờ đi và ông nghe có tiếng huýt sáo. Ông chỉ kéo dài 6 giây trước khi chấm dứt

Thanh Hải (theo Mystery)
.
.
.