Tình dục đường miệng: Hiểm họa ung thư hầu họng
Đầu tháng Giêng năm 2012 này, Hiệp hội Ung thư Mỹ (ACS) đã ra công bố Các số liệu ung thư hàng năm. Báo cáo vào năm 2012 bao gồm một số sự kiện đáng khích lệ. Kể từ năm 1990, tỷ lệ người mắc một số khối u phổ biến bao gồm phổi, đại tràng và ung thư tuyến tiền liệt đã suy giảm. Trong khi đó, tỷ lệ của 7 khối u ác tính như ung thư miệng và họng liên quan đến chứng u nhú ở người (HPV) lại đang gia tăng.
Gia tăng cảnh báo ung thư hầu họng do xu hướng quan hệ tình dục bằng đường miệng
Đầu tháng Giêng năm 2012 này, Hiệp hội Ung thư Mỹ (ACS) đã ra công bố Các số liệu ung thư hàng năm. Báo cáo vào năm 2012 bao gồm một số sự kiện đáng khích lệ. Kể từ năm 1990, tỷ lệ người mắc một số khối u phổ biến bao gồm phổi, đại tràng và ung thư tuyến tiền liệt đã suy giảm. Trong khi đó, tỷ lệ của 7 khối u ác tính như ung thư miệng và họng liên quan đến chứng u nhú ở người (HPV) lại đang gia tăng.
Nguyên nhân của xu hướng này mà theo nhiều người cho rằng là có liên quan đến những người thích quan hệ tình dục bằng miệng chứ không phải là kiểu quan hệ đơn giản như bạn nghĩ. Ung thư hầu họng đề cập đến các khối u amiđan và sau lưỡi, mặt sau của vòm miệng và các vách thành sau của cổ họng. Ung thư hầu họng thường phát sinh mạnh mẽ ở những người uống rượu và hút thuốc lá nặng đô.
ACS ước tính rằng, có khoảng 13.500 trường hợp mới của những người mắc bệnh ung thư hầu họng ở Mỹ trong năm nay. Trong đó, gần 11.000 đàn ông và hơn 2.500 phụ nữ sẽ bị ảnh hưởng, và khoảng 2.300 người sẽ chật vật đấu tranh. Trong khoảng năm 1999 và 2008, tỷ lệ người mắc HPV hầu họng tích cực đã tăng 4,4% trong số đàn ông da trắng và 1,9% trong số đàn bà da trắng. Sự thay đổi giữa các nhóm chủng tộc và sắc tộc khác không đáng kể, theo báo cáo. Sự gia tăng bệnh lớn nhất nằm trong khoảng đàn ông ở độ tuổi 55 và 64 tuổi.
"Giống như các nhà điều tra, chúng tôi đang nhìn thấy sự gia tăng ở bệnh ung thư hầu họng", dẫn lời tuyên bố của ông John Deeken, bác sĩ chuyên khoa ung thư, công tác tại Trung tâm ung thư Lombardi tại Georgetown. Chủng HPV gây ung thư có xu hướng gây nhiễm các tế bào miễn dịch ở lưỡi và amiđan, bác sĩ Deeken giải thích: "Điều này có thể giải thích lý do tại sao chúng ta thấy virus trong các khối u ở những vùng của hầu họng, trong khi ở các bệnh ung thư ở môi, thanh quản và dây thanh âm lại không tăng trưởng là mấy".
![]() |
| Hình ảnh miêu tả những khối u làm gia tăng căn bệnh ung thư hầu họng. |
John Deeken lập luận: "Nếu ung thư chỉ đơn giản là việc nhiễm HPV do quan hệ tình dục thì sẽ thấy nhiều ở phụ nữ. Dịch tễ học đang bối rối. Giả định rằng nếu chúng tôi phát hiện xu hướng này từ cách đây 8 hay 9 năm, thì đây là một căn bệnh lây lan mạnh qua đường tình dục bằng miệng. Nhưng ít nhất là tại Georgetown, chúng tôi có những bệnh nhân trong độ tuổi 80 đang mắc phải căn bệnh ung thư này. Điều này đặt ra những câu hỏi về thói quen tình dục của người Mỹ hoặc về HPV".
Cơ chế hình thành bệnh ung thư hầu họng
Độ trễ thời gian giữa nhiễm HPV thời kỳ đầu và ung thư có thể kéo dài vài thập kỷ, theo xác nhận của Tiến sĩ Maura L. Gillison, bác sĩ chuyên khoa ung thư và giáo sư tại bang Ohio, người đã công bố các kết quả hội thảo về HPV và ung thư. Báo cáo của Maura và các cộng sự đã được đăng tải trên tờ Y học New England, đã tiết lộ rằng những người có thói quen sinh hoạt tình dục bằng đường miệng trong suốt cuộc đời của họ sẽ có nguy cơ mắc ung thư hầu họng cao, và nhiễm trùng HPV-16 tương quan với loại bệnh ung thư này. U nhú ở người là một trong những loại virus đầu tiên trong các bệnh ung thư ở người. Xấp xỉ 40 phân nhóm lây lan qua hoạt động tình dục. Hai loại HPV-16 và HPV-18 là nguồn gốc gây nên đa số loại bệnh ung thư cổ tử cung tại Mỹ.
Phần lớn phụ nữ mắc HPV thường không phát triển ra bệnh ung thư cổ tử cung; và nếu khối u ác tính phát triển, nó thường mất từ 20 đến 30 năm hoặc lâu hơn sau khi nhiễm bệnh ban đầu. Thông thường, các bệnh ung thư hầu họng được gây ra bởi phân nhóm HPV-16. Tiến sĩ Maura L. Gillison nói: "Các cơ chế mà HPV gây ra căn bệnh ung thư được thành lập khá tốt". Hai gen virus gọi là E6 và E7 có tính chất liên quan. Bản thân virus chứa rất ít gen, nó không thể nhân giống ngoài tế bào của con người. Do bởi virus can thiệp với các tín hiệu thông thường trong việc điều chỉnh tăng trưởng tế bào, do đó tế bào nhiễm HPV có khuynh hướng sinh tồn và nhân bản.
Tiến sĩ Maura L. Gillison xem xét, các chất đạm E6 và E7, được mã hoá bởi gen, là cần thiết nhưng chưa đủ để hình thành bệnh ung thư. Trong trường hợp nhiễm HPV tại bộ phận sinh dục, phần lớn cá nhân nhiễm HPV trong miệng đều không phát triển thành khối u. Những nhân tố khác gây thiệt hại cho khoang miệng từ chất nicotine hoặc các chất độc khác, những thay đổi miễn dịch hoặc có thể là một khuynh hướng di truyền - đã dẫn đến các khối u hầu họng ở một số người, thường là vài năm sau lần nhiễm trùng ban đầu.
Đối với các bệnh nhân bị mắc bệnh ung thư hầu họng có liên quan đến HPV, khả năng tiên lượng tương đối tốt. Cục Quản lý thuốc và dược phẩm Mỹ (FDA) đã phê chuẩn 2 loại vaccines đặc trị HPV là Gardasil và Cervarix, nhằm phòng ngừa ung thư cổ tử cung ở thời kỳ đầu. Gardasil, một loại vaccines bao gồm 4 phân nhóm HPV đã được tiêm cho các bé trai nhằm phòng ngừa mụn cóc sinh dục và ung thư hậu môn

