Phận người chìm nổi mưu sinh trên lòng hồ thủy điện
Những thân phận chìm nổi trên mặt hồ
“Bất kể là trời nắng hay mưa, người dân làng vạn chài đều lặn lội mưu sinh trên lòng hồ, họ coi hồ là sự sống, sự tồn tại của nhiều thế hệ gia đình hàng bao đời nay”. Anh Nguyễn Hữu Thỉnh, một dân vạn chài kiếm sống lâu năm trên lòng hồ thủy điện Na Hang (Tuyên Quang) tâm sự. Cũng như nhiều thân phận chìm nổi trên mặt hồ này, anh Thỉnh đã có gần 10 năm gắn bó thân thiết với lòng hồ. Ngay từ khi nhà máy thủy điện Na Hang vừa được đưa vào hoạt động năm 2002.
Cũng theo anh Thỉnh, những xóm vạn chài mọc lên từ lòng sông thủy điện phần lớn là dân tứ xứ từ nhiều vùng quê dạt về kiếm sống sinh nhai. Cái xóm chài nghèo nàn, xơ xác nằm khiêm tốn ở những khúc nước cạn trên mặt hồ thủy điện, ở đó có biết bao số phận con người chìm nổi, ngày ngày cần mẫn bán sức, bán sinh mạng mình để mưu sinh tồn tại.
Để được mục sở thị cuộc sống sông nước lênh đênh cùng với những kiếp người lao động nghèo khó, chúng tôi theo chiếc thuyền độc mộc đánh cá của anh dân chài, người kinh Nguyễn Hữu Thỉnh rẽ sóng thẳng tiến ra giữa lòng hồ. Người đàn ông 37 tuổi này đã có gần 20 năm kinh nghiệm sông nước, từ những ngày công trình thủy điện Na Hang chưa được xây dựng kiên cố như ngày nay.
Nơi đây trước kia là những con sông lớn hung dữ chảy qua những dãy núi quanh co. Ngay từ khi còn bé, anh Toản đã được cha mẹ truyền cho những kinh nghiệm sông nước, để có thể đối mặt với thủy thần tìm kế sinh nhai. Có lẽ nhờ vốn sống tích lũy được mà bao năm qua đối mặt với những cơn thịnh nộ của thiên nhiên, anh vẫn vững vàng chèo lái con thuyền độc mộc của mình vượt qua những cơn sóng dữ. Giữa cái nắng gay gắt của tiết trời tháng 6, anh Thỉnh cởi trần phơi tấm lưng rộng đã được nắng và gió nhuộm màu đồng đỏ tía. Có lẽ điểm đặc trưng của những chàng trai sống với nghề sông nước chính là những tấm lưng trần to rộng mang màu đồng đặc trưng.
![]() |
| Một trong những người làm nghề chài lưới mưu sinh trên thủy điện. |
Để chúng tôi hiểu hơn về cuộc sống chìm nổi của những “người nhái”, (theo cách gọi của người dân nơi đây), anh Thỉnh đồng ý đưa chúng tôi rẽ con nước tiến ra giữa lòng hồ để bắt đầu công việc của một ngày vật lộn mưu sinh. Đứng giữa không gian mênh mông là nước, đối mặt với sự khắc nghiệt của thiên nhiên chúng tôi mới thật sự cảm nhận hết được những vất vả đầy hiểm nguy của những con người đã gắn đời mình với nghiệp sông nước. Những cơn gió hoang từ những khu rừng nguyên sinh Pác Tạ thổi mạnh tạo nên những đợt sóng nước lớn khiến con thuyền độc mộc tròng trành mạnh.
Để trấn an những người khách lạ, anh Thỉnh một tay điều khiển mái chèo, tay kia nắm chặt bờ vai tôi động viên “chú cứ yên tâm, sóng yếu thế này làm sao lật được thuyền”. Thế nhưng điều đó vẫn không khiến chúng tôi yên tâm được, bởi trên thuyền không hề có những vật dụng cứu hộ như: phao cứu sinh, áo phao...
Có lẽ đối với một “người nhái” thì những vật dụng đó trở nên rất thừa thãi, nhưng có ai dám chắc được lòng sông lúc nào cũng được hiền hòa như thế. Những cơn thịnh nộ của thiên nhiên bao giờ cũng gây nên những hậu quả khôn lường, đó là chưa kể đến, lòng sông rất sâu và có nhiều khúc nước chảy siết tạo nên những vòng xoáy hiểm trở có thể cuốn chìm bất cứ con thuyền nào đi lạc vào.
Nguy hiểm, vất vả là thế nhưng cuộc sống của những người dân vạn chài nơi đây lại rất khó khăn, thiếu thốn. Không có nghề phụ, mọi sinh hoạt gia đình chỉ trông chờ vào những mẻ cá, vó tôm kiếm được trong ngày. Theo anh Thỉnh thì trung bình một ngày trừ mọi chi phí như: xăng dầu, mồi tép…thì thu nhập tối đa cũng chỉ được 70 nghìn/ ngày. Số tiền này đủ mua gạo và thức ăn trong một ngày, chứ không dư dật được đến hôm sau.
Cuộc sống bấp bênh, chìm nổi của những thân phận chài lưới đã diễn ra hàng chục năm nay, thế nhưng điều khá đặc biệt là những con người nơi đây lại không muốn từ bỏ đi cái “nghiệp” sông nước đời mình. Anh Nguyễn Bá Toàn, người đã có gần tám năm gắn bó với dòng sông này tâm sự: “Nghiệp sông nước là do cha ông truyền lại, vì thế chẳng ai muốn bỏ, tôi đã từng gác mái lên bờ một lần, nhưng không được, nó cứ như con tim mình vậy, không đập nữa là chết”.
Cũng như anh Toàn, anh Thỉnh cũng đã từng một vài lần gác mái chèo lên bờ tìm nghề khác, nhưng chưa được hai hôm lại vội vã trở về đẩy thuyền ra sông. Dường như đối với họ, nghề sông nước, chài lưới đã ăn sâu vào “máu”, khiến họ không thể từ bỏ đi cái “nghiệp” đã gắn bó từ bao đời nay.
Công việc chài lưới của một “người nhái” bắt đầu từ lúc ánh sáng của ngày mới chưa bắt đầu, đến khi ánh nắng cuối cùng trong ngày còn sót lại họ mới đưa thuyền cập bến. Sau khi tôm, cá được đưa lên bờ, những người phụ nữ trong gia đình lại tất bật nhặt những con tôm, con cá vào rổ, rá để đem ra chợ bán.
Phần lớn những người mưu sinh trên lòng hồ thủy điện đều là dân lao động tự do, họ đánh bắt nguồn thủy sản tự nhiên có trong lòng hồ. Cũng có một số hộ vạn chài nuôi cá lồng, nhưng không đáng kể, bởi con nước trong lòng hồ có tính cách khác thường nên đôi khi nó cướp trắng miếng cơm manh áo, những đồng tiền vốn ít ỏi dành dụm được. Chính vì thế, dù đã mưu sinh gần 10 năm trên lòng sông thủy điện, nhưng cái đói, cái nghèo vẫn mãi đeo riết lấy họ.
Sống trôi sông, chết cũng vì sông
Phần lớn những người dân mưu sinh bằng làng chài lưới đều có những kỷ niệm sông nước gắn bó keo sơn. Dường như đối với họ, con nước chính là nguồn sống, là bạn nhưng cũng là thù, những phận người nhỏ bé, nghèo khó ngày ngày vẫn cần mẫn mưu sinh trên dòng nước dữ. Dẫu biết lòng hồ có thể cho họ miếng cơm, nguồn sống để tồn tại nhưng cũng có thể lấy đi của họ tất cả, thậm chí là mạng sống của chính mình.
Gần 10 năm gắn bó với nghề sông nước, kiếm kế sinh nhai cũng nhờ dòng nước mang lại, nhưng công việc của họ cũng mang rất nhiều rủi ro. Dòng nước bình thường rất trong lành hiền hòa, sẽ chẳng ai ngờ được cũng có lúc nó trở nên hung dữ, độc ác, cướp đi nhiều mái ấm gia đình. Đã không ít những phu vạn chài phải bỏ mạng nằm lại dưới lòng hồ sâu thẳm.
Ông Nguyễn Hữu Thước, một vạn chài có nhiều kinh nghiệm sông nước, đã từng di cư không biết bao con sông từ
Cũng mang chung nỗi đau giống gia đình ông Thước, gia đình vạn chài Bùi Xuân Thưởng cũng phải gánh chịu nỗi mất mát đau thương từ dòng sông. Anh Thưởng là con trưởng của dòng họ, nối nghiệp ba đời tổ tiên làm nghề chài lưới trên sông, anh cũng muốn đứa con trai duy nhất của gia đình nối nghiệp cha ông. Vì vậy, dù đứa trẻ mới được hơn 10 tuổi, nhưng anh thường xuyên đưa con đi thả vó tôm, kéo lưới cá. Nhưng trong một lần anh để con tự mình thực hành công việc thì bất ngờ thuyền của con bị lật, con anh bị dòng nước dữ cuốn đi xa, đến khi được anh phát hiện thì đã muộn. Đôi mắt người cha buồn bã nhìn xa xăm, “đúng là sống được nhờ sông mà chết cũng vì sông”, anh Thưởng đau đớn thốt lên.
Dường như ở cái xóm vạn chài nghèo khó ấy, mỗi gia đình đều có một hoàn cảnh éo le riêng, thế nhưng điểm chung nhất của họ chính là sự nghèo đói không có lối thoát. Họ không thể rời bỏ được sông nước, bởi chính bản thân họ không thể khác. Giữa trưa hè, dòng sông mênh mông nước, những thân cò ngụp lặn như những chấm nhỏ điểm giữa bầu trời mênh mông nước, những thân phận của họ cũng như dòng nước của con sông Gâm này, lững lờ trông theo số phận ba chìm bảy nổi nghề sông nước. Những giọt nước mắt của anh Thưởng rơi cho đứa con xấu số nằm lại khúc sông này, một câu hỏi của tôi đã động đến nỗi đau giấu kín trong lòng người đàn ông này. Nay xin có lời tạ tội

