Ngôi làng nói tiếng: Âu Lạc cổ giữa Hà Nội

Thứ Bảy, 18/08/2012, 09:51
Ngay giữa thủ đô Hà Nội có một ngôi làng đang lưu truyền một thứ ngôn ngữ lạ. Với vốn từ vựng phong phú, không vay mượn bao đời nay người làng Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên) vẫn dùng nó để trao đổi như một ngôn ngữ thứ hai. Một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ học chỉ đưa ra nhận đị nh: Có sự kết hợp giữa âm Nôm và âm Hán Việt. Và cũng chưa có nghiên cứu chính thức nào về nguồn gốc của thứ ngôn ngữ lạ này. Chúng tôi đã có dịp về Đa Chất để tìm hiểu thực hư thứ ngôn ngữ kỳ lạ này.

"Chúng tôi cũng không biết có từ bao giờ. Chỉ biết sinh ra các cụ truyền lại. Có thể chỉ là tiếng lóng mà anh em thợ làm cối xay gạo nghĩ ra để trao đổi công việc." - Cụ Nguyễn Văn Đoán, người hiểu biết nhất về lịch sử làng Đa Chất chia sẻ.

Trao đổi bằng thứ ngôn ngữ lạ

Triền đê ngoằn ngèo men theo dòng Nhuệ Giang thơ mộng đưa chúng tôi về làng Đa Chất. Người ta bảo cứ đi đến ngã ba của con sông Lương và sông Măng (tên cổ của sông Nhuệ) này sẽ đến được Đa Chất. Nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội chỉ 40km nhưng Đa Chất vẫn giữ được những nét đặc trưng nhất của làng quê Việt Nam.

Vẫn mái đình cổ cong vút, cổng làng bề thế… và cả sự hồn hậu trong mỗi con người. Đến Đa Chất mọi người như lạc vào miền đất lạ mà quen. Bởi vẫn con người đó, cảnh vật đó nhưng họ lại giao tiếp với nhau bằng một ngôn ngữ xa lạ. Nó không như những địa phương của một số vùng là dùng một vài từ đặc trưng. Ngôn ngữ ở đây được người Đa Chất nói chuyện, giao tiếp như một thứ ngôn ngữ thứ hai. Người ta còn đùa với nhau rằng: "Đến Đa Chất muốn hiểu chuyện thì phải có phiên dịch".

Ngôi đình làng Đa Chất nơi thờ phụng thành hoàng làng được coi là tổ nghề làm cối xay lúa.

Xưa kia làng Đa Chất đâu đâu cũng biết bởi họ nổi tiếng với nghề đóng cối xay lúa. Cụ Nguyễn Văn Đoán, một "phó cối" già nhất nhì của làng ra tiếp chúng tôi với những nụ cười thân thiện và câu chào đặc Đa Chất: "Mỗ khái, mỗ lõng ngoại?". Tất cả chúng tôi đều ngỡ ngàng mặc dù biết đó là câu chào xã giao của người dân vùng này.

Chưa kịp để một người bạn dịch hộ, ông Đoán cười vui vẻ: "Tôi hỏi các anh từ thành phố hay làng khác đến đây". Người làng Đa Chất có tục lệ gặp người làng đi cùng một khách nơi khác đến là phải sử dụng ngôn ngữ này. Ông Đoán bảo: "Chúng tôi phải nói ngôn ngữ cổ, nếu không các cụ quở chết. Chúng tôi cũng không biết các cụ có thứ ngôn ngữ này từ bao giờ. Cứ đời nọ sang đời kia truyền cho nhau thôi".

Để khẳng định với chúng tôi cụ Đoán gọi thêm một người làng đến bệt cưu (chữ phổ thông gọi là đình làng) để chuyện bằng ngôn ngữ riêng của mình. Suốt buổi nói chuyện nếu không có người dịch gần như những "kẻ ngoại đạo" như chúng tôi không hiểu chút xíu gì. Sau đây là cuộc nói chuyện nhỏ giữa cụ Đoán và 1 người nữa trong làng mà chúng tôi ghi lại được:

Ông Đoán: Thít chưa? (ăn chưa)

Anh Minh: Thít rồi. Đồi ỏn cũng thít rồi (Cháu ăn cơm rồi, bọn trẻ cũng ăn rồi)

Ông Đoán: Thít mận? (uống nước chứ)

Anh Minh: Cháu không thít

Ông Đoán: Mận thu? (chè thuốc không?)

Có thể nói thứ ngôn ngữ lạ mà người dân Đa Chất giao tiếp với nhau là rất phong phú. Gần như không thấy hiện hữu của những từ ngữ vay mượn của các vùng miền khác. Để có được và hoàn thiện một hệ thống ngôn ngữ truyền miệng như vậy chắc chắn phải trải qua vài trăm năm. Người dân Đa Chất cũng đã có 1 cuốn sách biên soạn tiếng lạ này để con cháu đời sau học tập.

Có ý kiến cho rằng, ngôn ngữ này có thể xuất phát từ khi hình thành làng Đa Chất. Những tài liệu, thần phả của làng Đa Chất thì đình Đa Chất chính là nơi thờ tự Trung Thành Đại Vương. Trung Thành Đại Vương còn được gọi là Thổ Lệnh Trưởng - là tướng chỉ huy Thủy quân thời Vua Hùng.

Ngài là con thứ 3 của một hào trưởng vùng Hồng Giang (sông Hồng) có tên là Đào Công Bột. Trong cuộc chiến giữa nhà Thục và vua Hùng, sau khi đánh trận thắng trở về qua vùng này ngài đã hóa tại vùng đất này. Nhiều chuyên gia cho rằng đây có thể là gốc tích của ngôn ngữ lạ Đa Chất. Nếu như vậy ngôn ngữ này ắt hẳn có niên đại gần 1 nghìn năm.

Có ý kiến lại phân tích rằng, chính trong ngôn ngữ phổ thông lại xuất hiện nhiều từ phải vay mượn của người ngôn ngữ Đa Chất. Ví dụ người Đa Chất dùng từ Chóp bu để chỉ người cao nhất.  Ngày nay ngôn ngữ phổ thông cũng hay dùng từ này để chỉ những quan chức chóp bu hay người đứng đầu tổ chức nào đó.

Hoặc từ "xấn xổ", người Đa Chất dùng để nói đến hành vi của một người đang tiến tới dùng bạo lực. Hoặc từ "choáng" người Đa Chất dùng để chỉ cái đẹp như "bệt choáng" là nhà đẹp hay "nhát choáng" là gái đẹp. Và từ "choáng" trong tiếng phổ thông thường dùng để chỉ sự ngạc nhiên, sửng sốt ví dụ: Cô ấy trông choáng thật hay nó nhìn choáng quá…

Những từ chỉ số đếm của Đa Chất cũng rất đặc biệt, ví dụ như: Nhất (một), nhị (hai), thâm (ba), chớ (bốn), dâu (năm)… mười là lạp. Lái Lạp (hai mươi), thâm lạp (ba mươi)… bích (một trăm), bích rộng (một nghìn)…

Ngôn ngữ của các "phó cối"?

Khi chúng tôi hỏi về thứ ngôn ngữ mà người Đa Chất hay trao đổi với nhau. Cụ Lê Đình Hiệp (90 tuổi) người am hiểu bậc nhất về tiếng nói lạ này của địa phương cười nói: "Không phải Âu Lạc cổ như người ta đồn đại đâu. Tôi nghĩ là từ lóng mà người dân chúng tôi nghĩ ra để trao đổi với nhau khi đi đóng cối xay thôi".

Những năm thịnh vượng của nghề đóng cối xay lúa, các tốp thợ trong làng cứ thế tỏa đi khắp các vùng miền như: Thanh Hóa, Yên Bái thậm chí còn vào tận miền Nam. Từ đây họ sáng tạo ra hẳn một hệ thống tiếng lóng mang tính chất địa phương để trao đổi với nhau. Mục đích là để thuận tiện và giữ bí mật trong nghề. Cụ Đoán chia sẻ: "Chúng tôi thường trao đổi với nhau bằng thứ tiếng này cũng nhằm che giấu chủ nhà. Ví dụ như: khi chiếc cối được giá chúng tôi nói với nhau: Bệt này cong (nhà này đắt) hay ko được giá thì nói: Bệt này hớ".

Tuy nhiên, các vị cao niên trong làng cũng không biết rõ nguồn gốc và lịch sử của nghề đóng cối. Cả làng cũng không còn biết ông tổ nghề là ai mà chỉ "cha truyền con nối". Làng Đa Chất sáng tạo ra những tiếng lóng hiện đại để chỉ như "sưỡn mố" (ô tô, xe đạp, xe máy), "bệt" (tàu thủy), "sưỡn nhật" (đồng hồ)…

Tuy vậy khoảng những năm 1990 trở lại đây nghề đóng cối không còn thịnh vượng gần như tiếng lóng cũng không còn được sử dụng rộng rãi và sáng tạo nhiều hơn nữa. Ví dụ như những từ "ti vi" hay "máy vi tính" , "điện thoại" cũng không có. Cụ Đoán cười vui vẻ: "Nói chung tiếng lóng ở Đa Chất bây giờ cũng mai một.

Do công nghiệp hóa phát triển, nghề đóng cối không còn được thịnh hành thì ngôn ngữ cũng nhạt dần theo". Để khẳng định cho điều này, trong cuốn "Văn hóa giân gian làng Đa Chất" của tác giả Chu Huy và Nguyễn Dần có đoạn: "Làng Đa Chất chẳng những có nghề đóng cối xay thóc truyền thống mà còn sáng tạo ra cả hệ thống tiếng lóng làng nghề. Đây là biệt ngữ mà chỉ riêng phường thợ cối mới hiểu được và giao tiếp với nhau".

Chỉ là tiếng lóng nhưng cần được giữ gìn

GS-TS Trần Trí Dõi.

Để có câu trả lời thích đáng hơn về thứ ngôn ngữ lạ ở Đa Chất, chúng tôi có cuộc trao đổi với GS. Ts Trần Trí Dõi, Khoa Ngôn ngữ học, Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn.Giáo sư cho biết, ngôn ngữ mà làng Đa Chất nói là của các thợ cối sáng tạo và sử dụng trong nghề. Ngôn ngữ này không có quy luật ngữ âm lịch sử nào của Tiếng Việt cổ. Nếu có thì không thể chỉ lưu giữ ở một nhóm nhỏ như làng Đa Chất được.

Tuy nhiên, Giáo sư cũng khẳng định: Tiếng lóng ở Đa Chất là một tài sản văn hóa đáng quý cần được lưu truyền. Ông đánh giá cao sức sáng tạo bản sắc riêng của làng nghề làm cối Đa Chất. Tiêu biểu là hệ thống từ vựng tiếng lóng rất phong phú được truyền từ đời này qua đời khác. Các giới chuyên môn và những người có trách nhiệm nên gìn giữ cẩn thận để làm phong phú văn hóa Việt  Nam.

Giáo sư khẳng định thêm, lời của các vị cao niên trong làng cho rằng đây là tiếng lóng của một số bộ phận người dân sử dụng trong việc đóng cối là hoàn toàn hợp lý. Ví dụ như lời của cụ Nguyễn Văn Đoán.

Gần đây, ông Chu Huy  (Hội viên Hội Ngôn ngữ học Việt Nam) từng khẳng định trước công chúng: "Tìm hiểu những biệt ngữ này thấy có sự kết hợp giữa âm Nôm và âm Hán Việt, âm thông dụng và âm ít dùng, âm nói tắt, âm nói gọn và âm dân dã". Có thế thấy ngôn ngữ lạ của Đa Chất hết sức đa dạng và phong phú. Và giả thiết nó là ngôn ngữ cổ hay ngôn ngữ từ thời Văn Lang - Âu Lạc vẫn chưa thực sự được làm sáng tỏ.

Tiêu Phong
.
.
.