Giọt máu trời Tây “lưu lạc” đất Việt và chuyện những người con “tìm chồng” cho mẹ

Thứ Tư, 23/04/2014, 17:30

Họ là một trong số hiếm những người con lai không có tên và họ ngoại quốc ở Việt Nam. Vì những chuyện tế nhị nên họ đã giấu tung tích của mình. Họ chỉ được thiên hạ biết đến bắt đầu từ lời trăng trối của người mẹ cực khổ. Hành trình đi tìm bố của một người con lai sau 62 năm được sinh ra đã bắt đầu…

Đứa con thời chiến

Đến thôn Bãi Ổi (Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang) nếu đem dòng họ có một không hai này ra hỏi, người ta sẽ được nghe những câu trả lời đầy uẩn khúc. Nhiều người ở đây bảo, lâu nay trông họ ai cũng bảo là con lai. Da họ trắng, mắt họ màu xanh, tóc màu vàng, vóc dáng khác người Việt, nhưng lạ thay họ chỉ mang họ Nguyễn. Hàng xóm láng giềng, lại thêm sự tế nhị của người Việt nên chỉ biết vậy mà không dám hỏi nữa. Chỉ mới gần đây, thể theo nguyện vọng của bà Nguyễn Thị Mai, người con lai thế hệ đầu tiên của dòng họ có thiển ý muốn đi tìm bố thì những hồ nghi trên mới trở thành sự thực. Để có cơ sở pháp lý, bà ra xã xin xác minh vào “đơn tìm cha”, gửi cho Đại sứ quán Pháp. Thông tin ra, hàng xóm láng giềng cũng như các con bà mới dám công nhận mình là người Pháp thật.

Trong ngôi nhà sum suê cây trái nằm ở thôn Bãi Ổi, bà Nguyễn Thị Mai niềm nở đón khách. Bà bảo, chuyện cũ đã khép lại rồi, nhưng thể theo nguyện vọng trước khi nhắm mắt, xuôi tay của mẹ bà, một người phụ nữ cực khổ nên bà mới làm đơn để đi tìm chồng cho mẹ, tìm bố cho con và ông cho các cháu xem thế nào. Bà Mai kể về những cơ cực của mẹ bà. Theo bà Mai, bà là hiện sinh của một đứa con thời chiến. Ngày Pháp chiếm đóng, Lạng Giang vốn là một vị trí chiến sự quan trọng. Để chốt giữ vị trí này, Pháp đã xây dựng tại đây một đồn có tên là Thái Đào. Chỉ huy đồn này lúc đấy là một trung úy, người ta hay gọi là Mutssv (Quan Hai). Đơn vị này mang phiên hiệu 351, đồn trú ở đây từ giai đoạn 1949 đến năm 1952. Đầu năm 1952, trong một lần tổ chức càn, Đồn trưởng Mutssv đã gặp mẹ bà (Lê Thị Xuân), bắt và mang theo về đồn.

Về đồn, mẹ bà phải làm những việc lặt vặt để phục vụ ông Mutssv và đã bị ông cưỡng bức tại đây. Sau đó bà Xuân được thả ra, tìm đường về nhà và gặp lại chồng mình. Bà đã kể lại tất cả những bất hạnh mà mình gặp phải cho chồng. Được người chồng an ủi, tha thứ và động viên nên bà tiếp tục sống cùng ông. Mọi thứ bình yên tiếp tục đến cùng bà Xuân, rồi bà có thai. Cuối năm 1952, bà Xuân trở dạ và đau đớn khi biết đứa con mình sinh ra có một ngoại hình hết sức lạ kì, khác những đứa trẻ Việt. Nhưng được người chồng an ủi, đấy là lỗi của chiến tranh, chúng ta là thân phận của cuộc chiến. Con nào cũng là con. Đã sinh ra, chúng ta phải có trách nhiệm nuôi nấng và phải coi nó là con của mình nên bà đã dằn lòng ở lại và nuôi con.

Cùng những động viên từ tấm lòng người bố và sự chăm sóc, yêu thương của người cha Việt, bà Mai đã lớn lên, hạnh phúc như bao đứa trẻ khác. Tất cả tung tích xuất thân của bà đều được cha mẹ giấu giếm khá kĩ càng. Nếu có ai bóng gió thì người cha lại tìm cách an ủi và khỏa lấp những hồ nghi trong bà. Vào tuổi đi học, bà Mai được cha cho đến trường với cái tên Việt là Nguyễn Thị Mai. Học đến lớp 5, do hoàn cảnh gia đình, bà Mai đành bỏ học. Bà ở nhà giúp cha mẹ công việc đồng áng. Bước vào tuổi 16, dù ngoại hình khác thường, nhưng vượt lên tất cả, bà lao vào tham gia công tác đoàn hội hết sức nhiệt tình. Các công tác ở địa phương của lứa tuổi bà không thoái thác bất cứ việc gì. Ngoài giúp bố mẹ, rảnh rỗi bà còn cùng những đoàn viên của xã tham gia san lấp hố bom, mở thêm ruộng đồng, đắp mương, đắp máng.

Bật mí từ một lời trăng trối

Vào tuổi 19, vốn đem trong mình dòng máu ngoại quốc, bà Mai phổng phao đến lạ kì. Và trong năm này, tình duyên đã đến với bà. Vượt qua tất cả những ngăn cản, gièm pha và đàm tiếu, chàng lính chiến có tên Nguyễn Đình Phước sau thời gian thầm yêu trộm nhớ đã ngỏ lời với bà. Cưới nhau, ở chưa quen hơi, chồng bà lại lên đường ra trận. Chồng biền biệt đi, bà ở nhà lam lũ mưu sinh, thay chồng nuôi bố mẹ và đàn em dại. Hai năm sau ngày cưới, vào năm 1972, chồng bà về phép. Trong thời gian ngắn ngủi này, bà và chồng đã có chung với nhau một con trai.

Trong thời gian chồng tham gia chiến trận, bằng sự thu xếp công việc của mình, bà Mai đã đăng kí và tham gia học một lớp y tá. Khóa học kết thúc, bà về trạm y tế của xã công tác, lấy việc phục vụ bệnh nhân làm nguồn vui, nguồn an ủi cho mình. Chồng đi biền biệt, chiến sự ngày càng một ác liệt và trong thời gian này tin dữ đã đến khi bà nhận được giấy báo tử. Bà vật vã khóc than cho thân phận của mình và quyết chí sẽ ở vậy để nuôi con và thay chồng phụng dưỡng bố mẹ. Nhưng số phận đã không đa đoan với bà, 4 năm sau, đất nước hoàn toàn thống nhất, chồng bà trở về. Bà lại khóc hết nước mắt cho hạnh phúc này. Ra quân về quê, chồng bà chuyển sang ngành giáo dục. Bằng sự phấn đấu và đóng góp của mình, ông đã trở thành một hiệu phó có tiếng của một trường THCS trên địa bàn.

Gia đình bà Nguyễn Thị Mai cùng với những đứa con và con gái có nét "Tây" nhất.

Vượt lên hoàn cảnh, với sự động viên và chăm sóc của chồng, bà tiếp tục có thêm 3 người con nữa. Hai con trai của ông bà mang gen trội của bố nhưng riêng hai con gái thì vẫn mang gen trội bên ngoại. Hai cô con gái này càng lớn lên càng có những biểu hiện hết sức “Tây” bằng ngoại hình và vóc dáng. Với ngoại hình này, hồi đi học các con của bà cũng khổ, toàn bị bạn bè trêu chọc, vì còn bé nên các cháu nhiều khi đã không vượt qua khỏi mặc cảm.

Tính từ đời bà Mai đến nay, gia đình có dòng máu lai Pháp này đã có 4 thế hệ. Các con bà lớn lên, xây dựng gia đình, hiện đã sinh ra cho ông bà 3 cháu nội và 4 cháu ngoại. Riêng đứa cháu gái lớn nhất, hiện nay đã học lớp 12, không hiểu sao lại có ngoại hình đặc biệt hơn nữa. Tóc cháu vàng hơn, mũi cao hơn và vóc dáng cũng khác các bạn cùng tuổi. Vì ngoại hình hơi có vẻ đặc biệt này nên nhiều lúc cháu cũng gặp những phiền toái. Ví như đi xe, đi tàu bao giờ cháu cũng phải mua vé cao tiền hơn với lứa tuổi. Đặc biệt, vì mái tóc vàng khác lạ nên đợt cháu đỗ PTTH đã không được nhà trường nhận vào học vì quy định cấm học sinh nhuộm tóc. Để cháu được tới lớp, ông Phước đã phải lên gặp ban giám hiệu để giải thích và viết cam kết cho cháu.

Theo ông Nguyễn Đình Phước, sở dĩ ông có ý định đi tìm chồng cho mẹ vợ tôi bắt nguồn từ lời trăng trối của bà. Năm 1989, khi lâm bệnh, biết không sống được bà đã gọi vợ chồng ông đến bên giường. Bà kể về nguồn gốc của vợ ông và bảo cô ấy là người thiệt thòi vì không biết mặt cha dù người cha nuôi rất tốt. Làm con cái, theo quan điểm người cha ấy dù là thế nào đi chăng nữa thì cũng nên một lần biết mặt. Sau gần chục năm suy nghĩ, bàn tính, vợ chồng ông đã thống nhất thể theo lời cuối của mẹ, thử một lần đi tìm cha cho vợ xem sao. Tuy ông biết đây là một việc làm hết sức mông lung vì thời gian đã quá lâu và có thể cha của vợ ông cũng không thể biết rằng mình đã vô tình để lại giọt máu lại đất Việt.

Sau nhiều năm đi tìm gặp các cụ cao niên trong khu vực, xác định thời kì ấy tại Thái Đào có đồn Pháp và có một trung úy mang tên Mutssv chỉ huy. Những người cao niên ở đây cũng xác nhận việc bà Xuân bị bắt vào đồn trong giai đoạn này. Từ những căn cứ này, bắt đầu từ năm 1996 gia đình bà Mai đã viết đơn, nhờ người dịch và đem đến Đại sứ quan Pháp để nhờ họ giúp đỡ. Trong đơn gửi Đại sứ quán, bà Mai viết: “Khi tôi sinh ra đã được mang trong mình hai dòng máu Pháp – Việt, cha tôi là người quốc tịch Pháp, mẹ tôi là người quốc tịch Việt Nam, nhưng từ lúc sinh ra đến khi mẹ tôi qua đời, tôi không biết mình là ai. Khi mẹ tôi sắp qua đời, mẹ tôi cho biết cha đẻ tôi là người nước Cộng hòa Pháp, tên là Mutssv, cấp bậc: Trung úy, chức vụ: Đồn trưởng Đồn Thái Đào, đơn vị công tác: 351 Pháp (giai đoạn 1949 – 1952).

Vào một ngày Quân đội Pháp đóng tại xã Thái Đào đã tổ chức càn quét vào làng Trại Đồ - xã Thái Đào và trong trận càn quét đó một sỹ quan quân đội Pháp đã bắt cóc mẹ tôi là bà Lê Thị Xuân để cưỡng bức quan hệ. Sau lần đó mẹ tôi mang thai tôi và mẹ tôi đã hỏi, tìm hiểu cha đẻ tôi là ông Quan Hai (tức Mutssv) Đồn trưởng Đồn Thái Đào. Do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh và danh dự của người phụ nữ Việt Nam mẹ tôi đã giấu kín tung tích cha đẻ của tôi, trước khi mẹ tôi sắp qua đời, mẹ tôi mới cho tôi biết sự thật về người cha đẻ của mình là ông Mutssv, quốc tịch Pháp, đồn trưởng Đồn Thái Đào”.

Tháng 11-2011, bà Mai có nhận được thư phản hồi của Đại sứ quán Pháp cho biết do thông tin bà cung cấp chưa đủ nên việc tìm kiếm vẫn chưa có kết quả và yêu cầu bà phải thu thập thêm thông tin. Theo bà Mai, dù vẫn biết việc tìm kiếm này như “mò kim đáy biển” nhưng bà và các con sẽ cố. Bà cho biết, việc tìm cha của bà không phải kiếm tìm lợi lộc hay quy trách nhiệm cho ai mà đó chỉ là thực hiện những lời trăng trối cuối đời của mẹ

Đơn Thương
.
.
.