Cuộc đời thăng trầm của nguyên mẫu ni cô Huyền Trang trong phim "Biệt động Sài Gòn"

08:35 25/08/2016
Phía sau tiếng chuông chùa, ngày ngày bà ăn chay niệm Phật và cầu nguyện cho quốc thái dân an. Thế nhưng, bọn cướp nước không cho "người con của Phật" được trọn kiếp tu hành. Đã bao lần đôi tay của bà run lên thảng thốt khi cầm trái lựu đạn, một phút lưỡng lự rụt rè không phải sợ, mà bà đã phạm vào sự "vô ngã" của đạo Phật…


1.7 tuổi, Phạm Thị Bạch Liên trở thành "chú tiểu" trong một gia đình có kiếp tu ở Sa Đéc (Đồng Tháp). Thời niên thiếu, Bạch Liên sống với mẹ cùng 9 anh chị em trong ngôi chùa tu của gia đình. Cha hồi đó là công nhân thợ nước ở Sài Gòn thấy cảnh áp bức bất công và hẳn có điều gì làm ông uất hận trong lòng nên quyết tâm lên núi theo nghiệp tu hành.

 Phần thương chồng, phần buồn cho số phận, mẹ bà cũng xuống tóc đi tu. Lần lượt những đứa con của mình, bà mẹ ấy đều hướng cả vào chốn thiền môn. Từ những ngày thơ ấu, "chú tiểu" Bạch Liên đầu để chỏm, lớn lên theo những bài kinh cầu nguyện. Rồi cái chỏm tóc đen láy trên đầu "chú tiểu" cũng được cạo trọc, chú tiểu chính thức bước vào con đường "sa di". Ít năm sau đó thì thọ giới Tì Kheo mang pháp danh Diệu Thông.

Để hướng cho con theo đạo trọn vẹn, cha đã gửi Diệu Thông theo học ni trường Diệu Đức ở Huế. Năm ấy, miền Trung bị ảnh hưởng của thiên tai, lụt lội hoành hành, mưa dầm dề khiến ngày trong chùa cứ dài lê thê, cảnh mây thâm u vời vợi.

Ngoài 80 tuổi, ni cô Diệu Thông vẫn một mình lẻ bóng với nỗi đau bệnh tật.

Trong cảnh đói kém, giữa đất cố đô mưa buồn não nề, Diệu Thông tham gia cùng các tăng ni theo xe của chùa đi phát gạo, phát thuốc cho dân nghèo. Lợi dụng hoạt động hợp pháp, đoàn xe của chùa chạy thẳng lên chiến khu tiếp tế gạo cho bộ đội. Đường xa, lầy lội lại vừa chạy vừa cảnh giác giặc phát hiện nên đến đoạn cua tay lái không kịp, xe bị lật.

Mọi người hoảng loạn, chao đảo nhưng rồi không ai bị sao, riêng ni cô Diệu Thông bị kẹt trong ca- bin vỡ đầu. Chiếc khăn trùm nhuốm máu đỏ như thấm nước. Tai nạn dù được che đậy kín đáo nhưng vẫn bị nhà cầm quyền tình nghi. Họ có cớ buộc trường phải đuổi học một số tăng ni, trong đó có Diệu Thông.

Ni cô Diệu Thông lau nước mắt, lên đường về lại Sài Gòn trong khi vết thương trên đầu đang tạo da non. Lòng ni cô buồn rười rượi, công quả ba năm tu nghiệp, văn hóa mới đệ nhất và còn buồn hơn nữa là đã phụ lòng kí thác của cha. Những ý nghĩ giằng xé tâm can người tu hành cứ choáng ngợp lấy tâm trí ni cô.

Sài Gòn và cả miền Nam thời gian này đang có những chiến dịch tố Cộng, diệt Cộng đẫm máu. Trên đường từ Sa Đéc về nhà ở xã Tân Dương, ni cô mấy lần thảng thốt, bàng hoàng khi tận mắt nhìn thấy những cái máy chém lạnh lùng của chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện luật 10/59. Những cái giật mình miên man theo dòng suy nghĩ trong đêm cắt ngang bài cầu kinh của ni cô. Rồi ni cô chợt nghĩ, cái cốt của đạo là cứu khổ cứu nạn, không thể ngồi tu mà ngoài kia dân tình ai oán, khóc than. 

Ni cô đi tìm gặp cha, cha biết chuyện con bị đuổi khỏi trường không hề trách móc la rầy, ông khen con đã làm đúng với những gì đạo Phật răn dạy. "Vô ngã" không có nghĩa là thấy chuyện bất bình làm thinh, "vô ngã" là đừng bao giờ sa chân lỡ bước vào những nơi vẩn đục, làm những điều xấu xa bị người đời chê trách. Nghe cha nói, có một cái gì đó trong lòng chợt thức dậy, ni cô quyết chí lên Sài Gòn, sống cuộc đời tu hành tự lập và nuôi dưỡng một ý định táo bạo được cho là bứt phá trong giới tu hành khổ hạnh.

Ni cô Huyền Trang thời trẻ.

2.Trên góc đường Trần Quốc Toản và Lò Siêu (Quận 11, TP Hồ Chí Minh) trước kia chỉ toàn là nước và sình lầy với những ngôi nhà lụp xụp mái lá mà người ta vẫn gọi là khu ổ chuột của những người cùng khổ. Đùng một cái, từ vùng đất "ma chê quỷ hờn" mọc lên một ngôi chùa mái lá ngày ngày tỏa khói hương nghi ngút lấn át đi cái màu u ám, hôi thối trước kia. Đây là công trình được xây dựng bằng mồ hôi, nước mắt của một ni cô bao ngày âm thầm đắp đất, bới cỏ, nhặt từng thanh tre, từng cái cột chùa. Mái chùa mọc lên với cái tên thành tâm: Bổn Nguyện.

Chùa Bổn Nguyện hằng ngày thu hút đông đảo khách thập phương đến cúng vái, cầu an. Là nơi náu thân của những phận người bần cùng trong xã hội. Những đêm trăn trở thấy cái gì đang thổn thức trong lòng, cảnh trời đất không khi nào ngớt tiếng súng ngay cả trong từng giấc ngủ, chùa Bổn Nguyện bắt đầu có những Phật tử thường xuyên lui tới.

Đó là một mạng lưới cách mạng đang phát triển lớn dần lên trong vỏ bọc nhà chùa dưới sự chở che của ni cô Diệu Thông. Kiếp tu hành của ni cô Diệu Thông từ đây chính thức bước sang một chương mới, để rồi bí danh Huyền Trang trở thành một mắt xích không thể thiếu trong trang phục nhà tu chiến sĩ. 

Đêm đêm trong mái chùa văng vẳng tiếng cầu kinh niệm Phật, dưới bóng đèn vàng vọt của căn buồng nuôi giấu cán bộ cách mạng, ni cô Huyền Trang cùng các chị cần mẫn đánh máy, in truyền đơn bằng bột và bí mật đem rải ngoài phố. Ni cô hăng say làm việc, tích cực đưa thư từ giao liên trong nội thành. Khi sực tỉnh, ni cô biết mình đã dấn thân vào con đường cách mạng thật sự rồi. Chùa Bổn Nguyện đi quá sâu vào con đường ngoại đạo nên cảnh sát bắt đầu theo dõi. Chúng tìm đủ mọi cách phá hoại chùa và để dằn mặt những nhà tu đang cố tình hướng ngoại, tiếp tế, che chở Việt cộng.

Trong mỗi trận đánh, ni cô Huyền Trang luôn là người dẫn đường. Những trận xuất phát tại chùa mỗi ngày một dày đặc hơn, mạnh mẽ hơn. Cùng với đó, chùa là nơi đầu tiên chứng kiến cảnh những chiến sĩ ra đi không bao giờ trở về. Đó là Tám A và Tám Ngoan, hai chiến sĩ biệt động gan dạ, trung kiên từng tham gia vào nhiều trận đánh xuất quỷ nhập thần ở Sài Gòn.

Trong trận đánh xe bus từ cư xá đường Nguyễn Văn Thoại đi phi trường, khi xe Honda hai cô vừa tới nơi thì xe chở sĩ quan Mỹ cũng vừa lăn bánh. Không thể để mất cơ hội, Tám A lái xe đuổi theo và cập vào hông xe bus, rút chốt trái nổ trực tiếp và hai cô đã anh dũng hy sinh. Nghe tiếng nổ giống với những trận đánh thường diễn ra trong nội thành, ni cô Huyền Trang lao ra đường đi xem tình hình.

Tới nơi thì người đứng xúm lại đông nghẹt, rẽ dòng người vào hiện trường, chợt mắt ni cô sụp xuống khi nhận ra hình dạng không lành lặn của hai đồng chí mình. Không thể lại gần để nâng hai thi thể kia lên bởi cảnh sát đang phong tỏa hiện trường.

“Biệt động Sài Gòn”, bộ phim từng gây chấn động màn ảnh nhỏ.

Cố lấy lại bình tĩnh để khỏi bật ra tiếng khóc, ni cô chạy một mạch về chùa thông báo cho mọi người biết hung tin. Tám A hy sinh ngẫu nhiên giống với chồng của cô trong một lần nổ bộc phá tại Biên Hòa. Vậy là hai vợ chồng cùng là biệt động, cùng hy sinh trong hoàn cảnh vô cùng anh dũng. Họ để lại một đứa con gái đang gửi ở chùa. Ngày mẹ đi đánh trái nổ, nó đã khóc thét níu lấy không cho đi. Vậy mà người mẹ cắn răng, dứt vạt áo ra đi và không bao giờ trở về với nó nữa.

3.Ni cô Huyền Trang thường tâm sự chân tình với những người bạn vong niên của mình rằng cuộc đời bà là một nhà sư nhưng từ khi dấn thân theo con đường cách mạng thì thấy đời sáng tỏ ra nhiều thứ. Bà có tình yêu thật sự với những người cách mạng, tình yêu đã phát triển lớn dần lên thành tình yêu đất nước sâu nặng. Điều ấy đã thôi thúc bà vượt ra khỏi phạm vi ràng buộc của một người tu hành. Chính thuyết "vô ngã" đã chinh phục lòng tự nguyện của ni cô Diệu Thông từ trong vòng tay của Phật. Vậy là năm 1982, bà để tóc trở về với đời.

Cuộc đời đấu tranh của ni cô Diệu Thông (Huyền Trang) cùng với những trận đánh đã đi vào lịch sử. Chiếc áo nhà tu cùng chiếc khăn trùm màu vàng úa của bà được đặt trang trọng trong Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ như một chứng nhân của lịch sử. Bà còn chiếc Honda mà ngày xưa từng rong ruổi khắp Sài Gòn chở đội quân biệt động đi đánh Tòa đại sứ, Dinh Độc lập, Đài Phát thanh… do Bí thư Thành ủy lúc bấy giờ là đồng chí Nguyễn Văn Linh tặng, nay kỉ vật ấy bà muốn gửi lại cho bảo tàng làm tư liệu.

Cuộc đời bà còn được xây dựng thành nhân vật chính trong bộ phim "Biệt động Sài Gòn". Huyền Trang, nhân vật tạo dấu ấn sâu đậm nhất trong lòng khán giả xuyên suốt câu chuyện. Bộ phim có sức lan tỏa lớn và cho đến nay, dù chiến tranh đã lùi xa nhưng mỗi khi nhắc đến điện ảnh thuở ấy, người ta vẫn nhớ một "Biệt động Sài Gòn" hào khí và oanh liệt.

Trong bộ phim, ni cô Huyền Trang đã hy sinh nhưng sự thật, nguyên mẫu ngoài đời vẫn đang sống, một cuộc sống đời thường quá lân đận. Chiến tranh kết thúc, ni cô từng di chuyển nhiều nơi, trải qua nhiều công việc nhưng cuối đời lại nương mình tại một ngôi chùa của mẹ ngày xưa ở Long Xuyên (An Giang) cùng nỗi cô đơn, trống vắng và nỗi đau bệnh tật hành hạ suốt nhiều năm liền.

Ngọc Thiện