Cái tết nghèo lay lắt của những tỷ phú "của để dành"

Chủ Nhật, 19/02/2012, 08:09
Nằm ngay trên mỏ đá, mỏ than mà dân làng vẫn nghèo, vẫn đói. Tết vẫn đìu hiu, lạnh lẽo. Vẫn là những đứa trẻ mặt mày lấm lem, lạnh ngắt vì chẳng đủ áo quần để mặc giữa mùa đông rét mướt. Ngẫm ra âu "mọi sự cũng tại nhân".

Người ta bảo cứ đi theo vết bánh xe ôtô là đến được xóm Mỏ Ba (xã Tân Long, Đồng Hỷ, Thái Nguyên), mà đến được tận trung tâm xóm. Đứng trên cao phóng tầm mắt xuống phía dưới, xa xa kia là xóm rồi. Xóm Mỏ Ba nằm lọt thỏm, lặng thinh bên những dãy núi nham nhở, loang lổ vết đào bới của đoàn người khai thác quặng. Chốc lại có những chiếc xe tải lổm ngổm, ì ạch men theo đường núi chở quặng ra trung tâm huyện. Con đường vào với xóm nhỏ mỗi lúc một khó đi hơn. Những cơn mưa sì sụt mùa đông khiến mặt đường trở nên lầy lội, đất đá lổn nhổn, trơn trượt.

Kỷ lục buồn

Mới buổi sáng đây thôi khi chúng tôi còn ở thành phố, không khí Tết ngập tràn, ai nấy đều tất bật chuẩn bị cho cái Tết ấm lành. Ấy vậy mà, cái thời tiết se se lạnh, mưa phùn lất phất của ngày Tết lại làm cho cái xóm Mỏ Ba này trở nên buồn hơn, lạnh hơn và đói hơn. Đã mấy chục năm nay, xóm Mỏ Ba "nổi tiếng" danh hiệu "xóm siêu đẻ" của tỉnh. Không "nổi tiếng" sao được khi cả xóm chỉ có 132 hộ dân nhưng đã có xấp xỉ 1.000 nhân khẩu.

Phó thôn Triệu Phúc Bình giữ vẻ mặt đầy suy tư nhẩm tính: Ở bản tôi nhiều "của để dành” nhưng vẫn nghèo lắm! Nhà ít thì  cũng 7 người con, đông hơn thì 8-9 đứa (như cặp vợ chồng Hồng Văn Nó (1967) - Vương Thị Dàng (1968) đã có 9 con, Hoàng Đức Quân (1961) - La Thị Hoa (1966) cũng 9 con, Vương Văn Khìn (1965) - Trương Thị Lý (1965): 9 con). Nhiều hơn nữa thì từ 11-13 như ông Đào Văn Tư  (13 con), ông Hồng Văn Páo (11 con), Lý Văn Día (11 con). Nhưng đông nhất vẫn là nhà ông Ngô Văn Sùng (20 người con)".

Để giải thích cho việc sinh con tự nhiên như cây rừng ông Vương Văn (có 7 người con) hồn nhiên nói: "Ở đây chúng tôi toàn làm việc nặng nên đặt vòng ảnh hưởng sức khỏe lắm. Ai có thai là phải sinh chứ không được phá bỏ, làm thế sao được, có tội với Chúa. Không ai dám cả!"

Men theo những thửa ruộng bậc thang khô nứt nẻ, từng đợt gió bấc thổi ào khiến cho cây cỏ trở nên héo hắt. Chốc chốc lại thấy một đám trẻ con chạc tuổi nhau chơi đùa. Đứa có quần mà không có áo, đứa trần trùng trục bò bê xuống ruộng, mặt mũi nhem nhuốc. Thấy người lạ, chúng len lén nhìn rồi chợt như hoảng sợ hay vì vui đùa mà đuổi nhau ra mãi xa mang theo cả tiếng cười khanh khách. Trưởng thôn Vương Văn Lầu cười như mếu giới thiệu: "Đây là đàn con nhà ông Sùng, kia là đàn con nhà anh Páo…".

Có lẽ cả cái huyện này ai cũng biết ông Ngô Văn Sùng (dân tộc Mông) bởi cái tên người ta phong cho ông: "Quán quân đẻ". Mới chỉ 56 tuổi nhưng ông đã có tới 20 mặt con và đã lên chức cụ. 5 đứa con đầu của ông đã dựng vợ, gả chồng. Con của những người con ấy cũng lại có gia đình riêng. Phải đến lần thứ 3 chúng tôi mới có thể gặp ông, có lẽ phần vì lão ngại gặp báo chí với lý do: "Hay ho gì đâu mà gặp".

Lên chức cụ nhưng nhìn lão vẫn còn rất tráng kiện, cơ bắp lắm, rắn chắc như cây nghiến trên rừng. Gần 60 tuổi mà lão vẫn cưỡi xe máy băng băng qua những con dốc dựng ngược. Nhà Sùng nằm trên con đường chạy quanh co quanh xóm, phía sau lưng là núi trọc, trước mặt là những thửa ruộng đã khô cằn, héo úa. Khoảng gần chục đứa trẻ sàn sàn tuổi nhau chạy quanh nhà. Lão nhìn chúng tôi, cười vui vẻ: "Toàn con, cháu, chắt của tôi đấy". Dứt lời lão chỉ về phía thửa ruộng trước nhà nói: "Kia là cậu út, năm nay gần 5 tuổi thôi. Có khi đây là đứa cuối cùng".

Con cháu nhiều đến nỗi, lão cũng chẳng nhớ nổi tên tuổi mà chỉ nhớ mặt thôi. Xòe bàn tay, lão đếm, rồi nhẩm tính đến mấy lần. Vậy mà vẫn chịu. Lão không nhớ hết, chỉ áng chừng con, cháu, chắt cả thảy lên đến gần 60 chục đứa. Với hai người vợ sống thuận hòa cùng lão bao nhiêu mùa hoa đào nở, hàng năm các bà định kỳ sinh cho lão một đứa, đứa lớn nhất sinh năm 1978. Giọng lão trầm ấm mà rắn chắc như hòn đá ngoài suối: "Mà sinh nở là trời cho. Sao lại bảo lạc hậu? Có nhiều con sau này chúng nó đỡ đần chứ!". Ấy đấy, làng xã cũng tuyên truyền, nhắc lão tới biện pháp phòng tránh thai đấy. Nhưng như bao lần lão chỉ quay đi rồi cười thôi.

Bước chân của Trưởng thôn Lầu lại đưa chúng tôi tới một gia đình có một "kỷ lục" khác, không kém gì kỷ lục của ông Sùng. Đó là gia đình anh Vương Văn Páo - Lý Thị Sào, đôi vợ chồng trẻ nhưng nhiều con nhất nhì bản. Chỉ mới 33 tuổi nhưng Vương Văn Páo đã có tới 13 đứa con (2 đứa đã mất do bệnh). Căn nhà trống hoác, cậu con cả Vương Văn Dí đang lim dim ngồi bên bếp lửa đặt giữa nhà. Mới 16 tuổi nhưng em đã tỏ ra chững chạc và khá khỏe mạnh.  Dù còn nhỏ nhưng Dí đã là đứa con của núi rừng, đã biết vào rừng cưa gỗ, biết đi săn cùng bố. Vừa đặt thêm củi vào bếp Dí vừa nói: "Bố em đi săn mấy ngày nay đã về đâu! Ở nhà chỉ có em và 2 đứa nữa, mẹ cũng đi làm nương rồi".

Chị Hoa cùng đứa con út 4 tuổi.

Những cơn mưa phùn kéo dài khiến con đường dẫn vào gia đình chị La Thị Hoa trở nên lầy lội. Khắp nhà cơ man nào quần áo cũ, mới, lớn bé bốc mùi khó chịu. Trưởng thôn Lầu cười nói: "Nhà chị đông con, đông cháu nên quần áo nhiều! Mưa gió này sao mà giặt được!". Đi qua căn nhà gỗ chính giữa, nền đất ẩm mốc, lỗ chỗ những hang chuột, vết đào bới của lũ trẻ con tới khu bếp nhỏ. Chốc lại có tiếng trẻ con khóc ré lên rồi lại cười sằng sặc.

Nghe hiệu lệnh lũ trẻ chân tay lấm lem chạy ào vào bếp, đứa dùng tay, đứa dùng đũa chỉ nhoáng cái nồi mỳ trắng hết bay. Hoàng Kin Đông (sinh năm 1986 anh cả trong gia đình) vui vẻ: "Em là anh cả của chúng nó. Nhà chỉ có mỳ trắng ăn thôi, làm gì có thịt… Chúng nó ăn nhanh lắm. Nồi còn bốc khói nhưng đã hết rồi này".

Phía sau nhà chị Hoa cùng cô con gái hí húi thái rau lợn, chị già hơn cái tuổi 50 của mình rất nhiều. Chị nói: "Không già sao được hả chú? Chục lần sinh con, rồi nuôi chúng nó. Bây giờ tôi cũng thấm thía rồi, sinh nhiều vất vả quá! Không thể nào lo được hết cho đàn con". Chị bảo, "sinh đến thằng thứ 6, đã kế hoạch rồi mà "lỡ" bị bệnh nên phải tháo vòng". Rồi đứa thứ 7, 8 và thằng út Hoàng Văn Ly (sinh năm 2006, kém anh cả tròn 20 tuổi) đã chào đời.

Tết đến lại càng thêm hiu hắt

Câu chuyện giữa tôi và chị La Thị Hoa bị phá vỡ bởi tiếng cười khoái chí của đứa con thứ 9 của chị. Chị Hoa cười nói: "Nó vừa bắt được một con sâu sắn đấy, kiểu gì nướng xong là sẽ tranh nhau ăn cho coi".

Cái Tết đã cận kề nhưng cả xóm vẫn tiêu điều, xác xơ, bản làng vắng bóng người lớn. Bọn trẻ con bảo: "Bố mẹ vào rừng mót gỗ, làm nương, săn bắn để lấy tiền mua thịt ăn Tết rồi!" Với nhà chị Hoa, anh Páo rồi cả ông Sùng, Tết là không có gì, Tết là vất vả, Tết là đói. Con đường trong bản lầy lội, lép nhép bùn đất thỉnh thoảng lại có tiếng xe máy gầm rú chở những miếng gỗ còn sót lại trong rừng ra thị trấn bán. Lúc lại có những tốp người khom lưng gùi gỗ từ rừng sâu ra nơi tập kết.

Càng cận Tết, xóm Mỏ Ba càng trở nên buồn hiu hắt.

Những ngày này Vương Văn Dí, vẫn thường theo người ta vào tít tận rừng sâu để cưa, xẻ gỗ rồi gùi thuê cho họ ra ngoài bản. Mỗi lần em được trả 250.000đ. Bố của Dí, Vương Văn Páo thì đi săn thú bán cho khách ở huyện vào. Dí cười hồn nhiên khoe: "Hôm trước bố em săn được con cày vòi, bán được 1,8 triệu đồng trên thị trấn đấy. Tết này mà kiếm được con nữa thì chắc chắn anh em nhà em lại có thịt lợn ăn".

Vậy đấy, cuộc sống của họ luôn phải chờ đợi vào sự may mắn, dựa vào thiên nhiên. Không hiểu một ngày rừng hết, thú hết cuộc sống của những người dân ở bản "siêu đẻ" này sẽ ra sao? Anh Lầu trưởng thôn buồn buồn nói: "Những người đi kiếm gỗ trong rừng kia đều là những người rất nghèo. Không có gạo để ăn, họ tranh thủ vào rừng kiếm những miếng gỗ còn sót lại bán. Họ phải đi cả ngày đường rừng mới lấy được đó. Rừng người ta khai thác cạn rồi. Giờ thì mót cho bằng sạch, bằng hết. Người dân nơi đây không có việc gì để làm. Không đi cưa gỗ, vác gỗ trong rừng thì làm sao có con lợn, nồi cơm sắm cho ngày Tết. Cả bản này có 130 hộ thì tới 113 hộ vẫn thuộc diện nghèo đói. Bao nhiêu năm nay vẫn thế thôi".

Nghèo là thế, đói là thế ấy vậy mà lũ trẻ nơi đây vẫn lớn lên như cây rừng, cứ hoang dại, hết đời cha vào rừng săn bắn, kiếm củi rồi đến đời con. Ngẫm tới tương lai của con cháu lão Sùng chỉ biết ngao ngán: "Cũng chịu thôi". Lão Sùng kể: "Ngày Tết chúng nó tập trung hết ở nhà tôi ngồi chật kín. Con lợn 60kg cũng không đủ mời chúng nó một bữa. Tôi cũng cật lực, dốc sức làm mà mua lấy con lợn thịt vào ngày Tết cho chúng nó ăn. Nghèo thì đã nghèo rồi".

Càng đi, càng nghe tôi lại càng thêm buồn. Trưởng thôn trẻ tuổi bảo rằng lũ trẻ ở đây chán học, sợ học lắm. Trường tiểu học, mầm non đã xây mới ngay trên xóm này từ 2 năm nay mà vẫn bao nhiêu em mù chữ. Hết chị Hoa, ông Sùng và bao ông bô,ë bà mẹ tôi tới gặp đều nói muốn cho lũ trẻ tới trường. Nhưng như Chị Hoa: "Chúng không thích mình cũng chẳng ép được".

Thế nên nằm ngay trên mỏ đá, mỏ than mà dân làng vẫn nghèo, vẫn đói. Muốn vào làm công nhân cho công trường phải tốt nghiệp THPT, nhưng có mấy người. Dẫu vậy, đâu đó vẫn còn những điểm sáng như nhà anh Đặng Tăng Chi và Triệu Nho Tình (dân tộc Dao) có con đã hoặc đang học đại học. Những đổi thay đã bắt đầu dù mới chỉ âm thầm, lặng lẽ

Tiêu Phong
.
.
.