Ai sẽ giúp những mảnh đời “màn trời chiếu đất” ?

Thứ Năm, 05/09/2013, 15:15

Có tới một nghìn một trăm lẻ một lý do khiến nhiều người phải vất vưởng nơi đầu đường xó chợ, "ngã đâu là nhà, ngả đâu là giường". Người bị con cái đuổi, người bị phá sản không còn có chỗ dung thân, có người là dân ngoại tỉnh lên Hà Nội kiếm kế sinh nhai vì tiết kiệm không muốn mất tiền thuê nhà trọ nên dặt dẹo bến tàu bến ga…

Với họ, nhà tắm là vòi nước công cộng của thành phố, "nhà vệ sinh" là những chiếc túi nilon, nơi ngả lưng lúc đêm về là vỉa hè, nhà ga, bến tàu, gầm cầu và tương lai là nỗi ám ảnh đáng sợ nhất.

30 năm ngậm ngùi giấc ngủ tha phương

Hà Nội về đêm, không khí trở nên dịu dàng và bình yên đến lạ. Ở một góc đường phố Đinh Tiên Hoàng, một cụ bà đang loay hoay trải tấm panô quảng cáo xuống vỉa hè để làm chỗ ngả lưng sau một ngày lang thang mệt mỏi. Cụ tên là Nguyễn Thị Loan ở Tứ Kỳ (Hải Dương). Khó có thể tin được người phụ nữ khắc khổ, khuôn mặt in hằn những nếp nhăn ngang dọc kia sinh năm 1912. Điều đó có nghĩa là cụ đã có mặt trên cõi đời này tới một trăm năm có lẻ. Cụ Loan nói: "Sống lâu là một sự đày đọa đối với tôi!".

Cũng đúng thôi bởi cụ đã phải sống cái cảnh “màn trời chiếu đất” này 30 năm rồi. 30 năm cô độc, gió sương và cay đắng. Nhiều lúc cụ chỉ ao ước mình lẩn thẩn, nghễnh ngãng rồi "vô tình" đâm đầu vào ôtô để kết thúc cái sự tồn tại không nên kéo dài của mình. 30 năm lang thang nhưng cụ Loan không ngủ cố định một nơi nào, cứ di chuyển loanh quanh trong khu phố cổ. Nơi cụ Loan nằm thường là chỗ có nhiều ánh sáng và có nhiều người qua lại. Bởi theo kinh nghiệm xương máu của cụ thì "ngộ nhỡ bọn nghiện nó hỏi thăm không có tiền nó lại đánh cho".

Hai năm trước, trong đêm tĩnh mịch khi đang dần chìm vào giấc ngủ thì cụ Loan bỗng giật nẩy người khi có một bàn chân đá mạnh vào cạnh sườn. Người đá cụ là một thanh niên đang vật thuốc: Nó dọa tôi có bao nhiêu tiền thì đưa hết cho nó. Tôi nói với nó là tôi chả có xu nào và van xin nó tha cho. Nó không tin lục tung túi đồ đạc rồi soát xét hết cả người tôi. Chả kiếm chác được gì nó đá tôi ngã dúi dụi rồi bỏ đi. Từ lần đó tôi toàn phải tìm chỗ nào có ánh sáng để ngủ thôi".

Tuổi già nhiều lúc đi còn chưa nổi nói gì đến chuyện kiếm kế sinh nhai. Thế nên mỗi ngày số tiền mà cụ Loan kiếm được nhiều nhất cũng không quá 30 nghìn. Bữa sáng nhịn, hai bữa trưa và tối cụ Loan cũng chỉ dám ăn cơm nắm và muối vừng mà người ta vẫn bán rong trên phố. Mùa hè, cụ Loan thường phát bệnh hen suyễn. Căn bệnh mãn tính khiến cụ luôn có cảm giác khó thở ngột ngạt. Mùa đông thì bệnh khớp lại hành hạ, đau ê ẩm khắp người. Cụ bảo: "Cứ lẻo khẻo thế này mà mãi chả chết cho". Đang kể chuyện tha hương cho chúng tôi nghe, nhưng khi hỏi đến con cái, cụ Loan bỗng im bặt rồi bật khóc tức tưởi.

Cụ xua xua bàn tay già nua mếu máo: "Tôi không có con đâu. Đừng nói đến chuyện con cái làm gì cho đau lòng". Nhưng rồi sau phút xúc động ấy, cụ lại ngồi thờ thẫn và buông từng lời khó nhọc với chúng tôi: "Nói vậy thôi chứ tôi cũng có tới ba đứa con, hai giai, một gái. Nhưng chẳng đứa nào nó cần tôi, thương tôi đâu. Lúc còn sức khỏe tôi còn giúp được chúng nó thì không đứa nào nói gì. Năm tôi bảy mươi tuổi, sau một lần bị ngã rồi ốm liệt giường mất hơn một tháng, con cái không đứa nào hỏi đến nơi. Nói ra thì đau lòng chứ lúc đó chỉ có duy nhất em gái đến chăm sóc tôi. Sau trận ốm, chúng nó nói bóng nói gió đuổi tôi ra khỏi nhà cho rảnh nợ. Những ngày đầu tôi ngậm đắng nuốt cay chịu nhục, sau rồi chúng nó càng ngày càng quá đáng. Nó đuổi thẳng, tôi buộc phải đi".

Ước nguyện lớn nhất của cụ Loan là được chết trong vòng tay con cái.

Bảy mươi tuổi cụ Loan trở thành một kẻ vô gia cư. Ban đầu còn tá túc nhà anh em mỗi người vài ngày. Sau thấy như thế bất tiện nên cụ tay gậy tay bị đi ăn xin. Mỗi ngày đi một ít thế mà rồi lên tới Hà Nội lúc nào không hay. Hằng ngày cụ đi nhặt ve chai rồi bán cho những người đi thu mua đồng nát, tằn tiện thì cũng sống được qua ngày. Sống cô độc với cụ đã là một điều đáng sợ nhưng nó chưa sợ bằng việc nghĩ đến cái chết mà chỉ có một mình. Sống ở quê nên cụ Loan biết, khi một người già hai năm mươi, con cháu, họ hàng đến đông đủ khóc thương cho người đã mất.

Thế nhưng với cụ có lẽ đó là một điều quá xa xỉ. Bởi đã ba mươi năm sống cuộc đời tha hương cầu thực chưa một lần con cái cụ đi tìm. Chắc có lẽ những đứa con của cụ đã cảm thấy "thanh thản" vì không phải nuôi "cái loại vô dụng" như chúng nó vẫn nói.

Thành kẻ vô gia cư sau khi vợ chết

Hà Nội đã bước sang ngày mới nhưng ông Nguyễn Văn Đồng (67 tuổi, quê ở Hà Nam) vẫn không sao ngủ được. Có lẽ do ảnh hưởng của thời tiết trước cơn bão đang đến gần nên khiến khắp cơ thể ông bị đau nhức. Rít sâu điếu thuốc lào rồi ngẩng mặt lên trời nhả khói, ông Đồng nhẩn nha kể về lý do khiến ông thành kẻ không nhà. Không thể chịu đựng nổi cú sốc quá lớn khi người vợ đột ngột qua đời, ông đã bỏ nhà ra đi. Ông Đồng trước là Thiếu tá bộ đội về hưu cuộc sống không giàu sang nhưng cũng khá sung túc. Mọi thứ đối với người đàn ông này như thế là quá đủ. Ông Đồng có con đủ cả trai lẫn gái nhưng sau khi về hưu, ông Đồng không ở với người con nào mà quyết định hai ông bà ở riêng và tự chăm sóc nhau, đúng theo quan niệm "con chăm cha không bằng bà chăm ông".

Cuộc sống êm ấm và hạnh phúc của vợ chồng ông Đồng thì cả thôn, cả xã ai cũng biết. Thế nhưng cách đây bốn năm, vì một căn bệnh hiểm nghèo mà người vợ hiền của ông đã qua đời. Sau sự ra đi đột ngột ấy của vợ, ông Đồng như người mất hồn. Ông bảo: "Tuổi già thì chả còn phải là yêu đương gì nữa nhưng nó là cái nghĩa gắn bó với nhau. Ngày ngày chúng tôi vẫn rủ rỉ tâm sự đủ thứ chuyện trên đời. Những chuyện đó nói ra với con cháu có khi chúng nó lại bảo là dở hơi". Có lẽ là vậy nên khi không còn vợ bên cạnh, ông Đồng thấy mình như bị mất phương hướng. Ngày ngày ông chỉ biết quanh ra quẩn vào rồi lại nhìn lên bàn thờ vợ mà khóc.

Cuối cùng cảm giác sức chịu đựng của mình sắp quá giới hạn, ông bỏ nhà lên Hà Nội sống cảnh lang thang. Ông Đồng chia sẻ: "Tôi chưa bao giờ nghĩ là mình làm sai. Bởi nếu tôi ở nhà chắc tôi sẽ buồn mà chết mất. Lên đây tôi đi nhặt ve chai bán lấy tiền nuôi thân. Nhịp sống ồn ào tấp nập cộng với việc mình cũng phải lăn lộn để kiếm tiền mà sống khiến tôi nguôi ngoai đi nhiều". Nói rồi ông lôi ra cho chúng tôi xem bức ảnh chân dung người vợ quá cố. Bức ảnh ấy được ông giữ như giữ báu vật của đời mình. Dù không được sống với vợ cho tới lúc đầu bạc răng long nhưng ông Đồng vẫn luôn nghĩ mình là người hạnh phúc vì đã tìm được nửa kia đích thực của cuộc đời mình.

Một đời lang thang vì không biết đẻ con

Đó là câu chuyện dài và đau lòng của bà Lê Thị Tú, 70 tuổi ở Quảng Xương, Thanh Hóa. Bất đắc dĩ có mặt ở Hà Nội có lẽ cũng được xấp xỉ bốn mươi năm, từ thời bà Tú còn là một phụ nữ trẻ trung và có nhan sắc. "Hồng nhan bạc phận", câu nói ấy dường như đã vận vào cuộc đời bà. Lúc đến tuổi cập kê, biết bao nhiêu trai làng đã đến tán tỉnh và muốn cưới được bà về làm vợ. Trong số ấy, người may mắn được bà Tú chọn là một chàng thanh niên có vẻ ngoài hào hoa và sáng sủa.

Bà Tú luôn bị ám ảnh về sự “ra đi” cô độc của mình.

Nhưng rồi ngày vui ngắn chẳng tày gang, cưới nhau một năm mà bà Tú vẫn chưa thể sinh con cho chồng và gia đình nhà chồng. Áp lực từ phía gia đình nhà chồng với bà cứ ngày một cao lên. Ban đầu mẹ chồng còn nói bóng gió, cạnh khóe bà là loại đàn bà vô dụng, đến cái điều đơn giản nhất là sinh con mà cũng không biết làm. Sau rồi những câu nói nghiệt ngã ấy cứ ngày một nhiều lên. Đỉnh điểm, 2 năm sau ngày cưới, bà Tú bị mẹ chồng chính thức dắt tay lót lá đuổi đi. Chồng bà dù thương vợ nhưng cũng không dám cãi lời mẹ. Tủi thân và xấu hổ vì cái tội "tày trời" không biết đẻ, bà Tú cũng không dám về nhà bố mẹ đẻ vì không muốn trở thành gánh nặng và nỗi nhục cho đấng sinh thành. Nghe nói sau khi bà bỏ đi không bao lâu, chồng bà đã lấy một người vợ khác rồi sinh con đẻ cái sòn sòn.

Biết mình không có khả năng làm mẹ nên ngay cả khi lên đất Hà thành, lúc còn trẻ cũng có nhiều người ngỏ ý muốn được lấy bà làm vợ, bà Tú cũng đều từ chối. Bà không muốn lặp lại bi kịch đời mình trước đó. Thân gái gió sương, bà lang thang nay đây mai đó, ngã đâu là nhà, nằm đâu là giường. "Đời tôi chỉ toàn cay đắng mà thôi. Không biết đẻ, nhà chồng đuổi đi. Con cái không có sống một mình mà chắc mai này chết cũng một mình thôi cô chú ạ". Bà Tú gạt những giọt nước mắt đang lăn dài trên gò má nhăn nheo mà kể: "Bây giờ già rồi còn đỡ chứ hồi còn trẻ trung nhiều đêm không dám ngả lưng mà ngủ đâu. Nhiều lần ngủ thiếp đi là bọn nghiện lại tìm đến làm đủ trò... Nhục nhã lắm. Đến đi vệ sinh cũng phải chờ trời tối, đi vào túi nilon rồi quẳng vào thùng rác. Sống như thế thà chết còn hơn!".

Sự thật những câu chuyện mà những người vô gia cư kể thật xót xa, nhưng cũng thật khó tin. Hi vọng sau những dòng tâm sựå này, những người thân của họ đâu đó sẽ tìm hiểu sự thật, có trách nhiệm với những người ruột thịt.

Ông Lê Toàn Khang, Phó giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội: Đối với những đối tượng vô gia cư sống trên địa bàn Hà Nội thì xã, phường, thị trấn nếu phát hiện ra có những người vô gia cư phải có nhiệm vụ “thu gom”. Sau đó Sở Lao động - thương binh và Xã hội Hà Nội sẽ tìm hiểu thông tin của những trường hợp đó để gửi trả về địa phương. Những trường hợp chưa xác minh được thông tin chính xác thì sẽ được đưa đến các Trung tâm bảo trợ xã hội I, II nuôi dưỡng. Tuy nhiên, việc thu gom những người vô gia cư này cũng vấp phải khó khăn, đó là nếu các đối tượng đó không ăn trộm, ăn cắp hay thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì chỉ có cách động viên họ tình nguyện về lại với gia đình hoặc đến các trung tâm bảo trợ xã hội của thành phố chứ không thể dùng hình thức cưỡng chế. Đối với những trường hợp đồng ý đến các trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn của thành phố thì đều được chăm sóc rất tốt.

Phong Anh
.
.
.