Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam
Cả một đời gắn bó với cây lúa, nhiệt tâm tạo giống lúa, thương binh, Anh hùng lao động Trần Mạnh Báo vẫn giữ thói quen thăm ruộng đồng và trò chuyện với người nông dân mỗi ngày. Ông gọi đó là cuộc đối thoại với cánh đồng. Người dân thường nhớ hình ảnh ông đội nón, xắn quần, lọ mọ ngoài đồng từ sớm tinh mơ tới lúc chiều muộn.
Con đường tất yếu không thể đảo ngược
Thói quen ra đồng có lẽ từ lúc hơn 10 tuổi, cậu bé Trần Mạnh Báo khi ấy đã làm công việc nhà nông rất nhanh nhẹn. Ký ức về cánh đồng làng, về gia đình đông anh chị em ở xã Thái Ninh, tỉnh Hưng Yên (xã Thái Thượng, huyện Thái Thụy, Thái Bình cũ) gắn với nỗi đau khó lành.
“Tuổi thơ tôi rất nhớ những lần ít ỏi gia đình được ăn cơm. Đó là lúc mẹ sinh em, là lúc bố rời nhà đi biển mang theo nắm cơm trắng gói trong mo cau. Những hạt cơm trở thành khát khao no đủ, choán toàn bộ tâm trí tôi. Mẹ thường kể tôi nghe về nạn đói năm 1945. Ngày giỗ của ông bà ngoại tôi chỉ cách nhau một tuần, vì ông bà đều mất trong nạn đói năm ấy. Quê tôi trồng khoai lang. Nạn đói ập đến, khoai chưa kịp có củ, người dân nhổ cả rễ khoai ăn, rồi bị tiêu chảy, kiệt sức và bỏ mạng. Sau này, em trai tôi cũng đoản mệnh vì nguyên nhân ấy. Bởi thế, tôi ước mơ khi lớn lên có thể trồng được những cây lúa trĩu hạt ấm no trên đồng đất quê mình, để người nông dân bớt khổ”, ký ức khốc liệt dội về trong tâm trí người thương binh già.
Năm 1968, khi đang học lớp 8, Trần Mạnh Báo khoác balo vào chiến đấu tại chiến trường miền Tây Nam Bộ. Những vết thương hằn trên cơ thể hết lần này đến lần khác. Lần bị nặng nhất vào tháng 12/1972, trận địa trúng bom, Trần Mạnh Báo bị thương nặng ở đầu và mặt. Hòa bình, trở về quê với thương tật hạng2/4, chỉ còn một bên mắt, nhưng chưa bao giờ ông nghĩ rằng những thương tích là giới hạn đặt ra cho mình.
Từ chối những cơ hội học tập theo chế độ chính sách, ông Báo xin vào làm tại trại truyền giống lợn ở huyện Hưng Hà (cũ), sau đó về Công ty Giống lúa Thái Bình làm tạp vụ. Ngày đi làm, tối đạp xe đi học, hoàn thành chương trình phổ thông. Năm 1980, ở tuổi 30, Trần Mạnh Báo thi đỗ Đại học Nông nghiệp. Trải qua bao vất vả, với cơ thể hằn dấu vết tàn phá của đạn bom, Trần Mạnh Báo đã chạm đến ước mơ, bằng ánh sáng của trí óc, bầu nhiệt huyết tự con tim và bản lĩnh vượt qua mọi khó khăn được tôi rèn từ chiến trường.
Dù đi đúng con đường mình chọn lựa, nhưng cuộc đời dường như luôn đặt ra những thử thách khốc liệt cho ông. Ra trường, ông được điều về làm Trại phó Trại giống lúa Đông Cơ (huyện Tiền Hải) - một trại giống lúa lớn của công ty. Ông nhớ lại: “Tôi đặt chân đến Trại Đông Cơ khi cơn bão lịch sử của đất Thái Bình vừa quét qua, tất cả về con số 0. Càng nghĩ tôi càng đau lòng. Thái Bình đã vang danh với “Bài ca 5 tấn” từ thời đánh Mỹ. Năm 1966, Bác Hồ đã về thăm, dặn dò phải nghiên cứu giống lúa cho nông dân.
Chính vì thế từ năm 1967, cơ sở giống Đông Cơ ra đời. Thế mà đến thời điểm tôi về, trại giống chỉ đạt 3,5 tấn/ha, người lao động hưởng lương theo chấm công, người tích cực cũng như người không tích cực, năng suất lao động thấp, trại có nguy cơ phải giải thể. Nhiều người ái ngại cho tôi, nhưng tôi không chùn bước. Những ngày hè năm 1987, tôi bắt tay viết đề án “Khoán sản phẩm đến người lao động trong nông nghiệp quốc doanh”. Gốc rễ của vấn đề là người lao động phải tự sáng tạo và hưởng giá trị, thì sản xuất mới phát triển”.
Nhiều người phản đối quyết liệt, số còn lại nghi ngờ, vì khác với đường lối chung khi ấy. Họ nói rằng Trần Mạnh Báo lúc ấy 37 tuổi, “trẻ người non dạ” nên lý luận suông. Lúc đó ông nói rằng: “Đây là con đường tất yếu phải đi. Lịch sử trao cho chúng ta cơ hội, nếu không làm sẽ có tội với lịch sử”.
Không phải đến thời điểm ấy, mà ngay khi từ chiến trường về, bắt đầu đi làm là ông đã nghĩ đến việc phải thay đổi. Ông vừa làm, vừa học, vừa quan sát cách vận hành của các doanh nghiệp nông nghiệp quốc doanh; đã cho làm thử từng khâu sản xuất sản phẩm thì thấy tốt hơn rất nhiều. Hơn nữa, ông có niềm tin vào Nghị quyết Đại hội VI của Đảng. Ông nghĩ rằng Nghị quyết ban hành mà không có người dám làm, dám đổi mới thì làm sao Nghị quyết đi vào cuộc sống được. Và cuối cùng, ông cũng được đồng ý cho làm thử.
Ngay từ vụ lúa xuân 1988 theo hình thức “khoán sản phẩm”, Trại giống lúa Đông Cơ đã đạt năng suất cao nhất kể từ ngày thành lập, các vụ sau cũng liên tiếp thành công. Mô hình quản lý này nhanh chóng được áp dụng ở Thái Bình, Trần Mạnh Báo được đề bạt làm Trại trưởng. Năm 1988, đồng chí Nguyễn Đức Bình,Ủy viên Bộ Chính trị, khi nghiên cứu chuẩn bị Nghị quyết “Khoán 10” đã đến tìm hiểu và đánh giá cao mô hình này.
Đối thoại với cánh đồng
Trên cánh đồng gần đất mũi Cà Mau, ông Báo cất lời chào một người nông dân: “Xin lỗi, bác tên gì, bao nhiêu tuổi rồi ạ ?”. “Tôi tên Sáu Bụng, 62 tuổi”, người nông dân đáp lời. “Thế là bác kém tôi hơn một giáp, vậy tôi gọi là chú nhé. Vụ này chú cấy giống lúa gì, năng suất vụ này thế nào ?”. “Giống TB99 của anh, mừng là khá hơn vụ trước”. “Tôi mời chú ra Hà Nội chơi nhé ?”. “Không hứa được, vì công việc đang bộn bề quá”. “Vậy hôm nào tôi vào đây ngủ chòi với chú một đêm nhé”. “Được chứ”. Những cuộc nói chuyện chớp nhoáng, không đầu không cuối ấy giúp ông hiểu hơn và đồng hành cùng người nông dân trên dải đất hình chữ S.
Năm 2000, Trần Mạnh Báo nhận trọng trách Tổng giám đốc Tổng Công ty Giống cây trồng Thái Bình. Lại một thử thách đặt ra, bởi công ty lúc ấy có hơn 400 người nhưng có đến hơn 30%... mù chữ, cơ sở vật chất gần như không có gì ngoài đất ruộng. Ông chú trọng việc đào tạo lại toàn bộ đội ngũ bằng cách cho công nhân đi học chữ, học phổ thông, học đại học, thậm chí cử cán bộ sang nước ngoài học ngoại ngữ và kỹ thuật sản xuất lúa lai F1. Nêu gương, chính ông cũng tự học ngoại ngữ và tin học.
Khát khao nâng tầm giá trị cho cây lúa nhưng quỹ thời gian, nguồn lực có hạn, ông Báo chọn giống là yếu tố then chốt để dấn thân. Ngày xưa là “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”, nhưng đối với nền nông nghiệp hiện đại, giống là yếu tố dẫn đầu trong quy trình trong sản xuất, có vai trò thay đổi về năng suất, chất lượng, giá trị hạt gạo.
“Của cải” quý giá cả cuộc đời ông là những giống lúa cho năng suất cao, có khả năng chịu hạn, chịu úng, chịu rét, chống đổ, thích ứng với biến đổi khí hậu, mà ông là tác giả và đồng tác giả. Có những giống lúa làm thay đổi cơ cấu giống lúa ban đầu, thậm chí thế chân được một số giống lúa nước ngoài được gieo trồng ở Việt Nam. Có những giống lúa hiện đang là chủ lực của nhiều địa phương trên cả nước với diện tích gieo cấy đến 70%. Không chỉ thế, những hạt giống lúa do ông tạo ra đã được gieo trồng ở những vùng đất xa xôi ngoài Việt Nam.
Với nỗ lực và tầm nhìn xa, Trần Mạnh Báo đã đưa công ty đến thành công. Năm 2020, ông vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Và cuối năm 2025, Công ty tiếp tục được phong tặng danh hiệu cao quý này. Đó là vinh dự, nhưng cũng là trách nhiệm lớn lao. Hành trình cùng cây lúa nhiều khó khăn, nhưng ông luôn nghĩ mình được trở về từ chiến trường là vạn phần may mắn so với nhiều đồng đội đã ngã xuống. Bởi thế nên ông phải cố gắng cả phần của những đồng đội không thể trở về, và đặt trách nhiệm hỗ trợ cựu chiến binh, đồng chí đồng đội lên vai.
Ông bảo, làm nông nghiệp nếu chỉ ở phòng lạnh thì thất bại. Phải ra ruộng, bám nông dân, yêu bùn đất rơm rạ; phải sâu sát, cảm nhận được sự chuyển động của tự nhiên, môi trường thì mới hiểu đúng và bật nảy nhiều ý tưởng. Ở tuổi 76, ông vẫn đứng mũi chịu sào lãnh đạo công ty, vẫn tham gia hội thảo về lúa, về nông nghiệp; vẫn trăn trở về cây lương thực trong bối cảnh an ninh lương thực là vấn đề toàn cầu. Điều quý giá ông nhận lại, là niềm tin của người nông dân. Có lần ông vào huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An thăm lúa. Cánh đồng ấy, ông đã đến thăm lúc bà con vừa cấy xong.
Khi lúa chín ông vào thăm lại. Ông báo cho anh Giám đốc Hợp tác xã Quỳnh Thạch, nhưng không nói rõ là sẽ ra đồng thăm lúa trước. Khi ông về đến văn phòng Hợp tác xã đã là 11 giờ trưa, trời nắng như đổ lửa, thấy bà con tập trung rất đông. Ông Báo hỏi thì anh giám đốc Hợp tác xã bảo: “Có việc gì đâu, tôi báo là hôm nay anh về thăm, nên bà con ngồi đợi để nhìn thấy anh. Bà con bảo mới chỉ nhìn thấy anh trên bao bì lúa giống”. Điều đó khiến ông xúc động.
Hỏi rằng, hình ảnh nào ông thích nhất trên cánh đồng lúa Việt Nam. Ông bảo, đó là lúc người nông dân đang gánh lúa trĩu vai, mồ hôi nhễ nhại, đi giữa cánh đồng vàng, nét cười ẩn sau vành nón. Bao nhiêu năm qua, hình ảnh ấy mang lại cho ông niềm hạnh phúc, đam mê để lao động không ngừng.

Kỹ sư nông nghiệp “giúp dân xoá nghèo” bằng chiêu mua thóc trôi nổi 18.000 đ/kg, làm giả bao bì bán 140.000đ