Tưởng nhớ đồng chí Trần Bạch Đằng: Ta phải là ta

Thứ Năm, 26/04/2007, 10:00

Trước khi qua đời, Trần Bạch Đằng đã di chúc lại cho người nhà rằng, dòng chữ trong nhà tang lễ hôm đưa tang ông sẽ không cần phải dùng quá nhiều chức danh mà chỉ giản dị đề "Vô cùng thương tiếc đồng chí Trần Bạch Đằng".

Thực sự tôi chỉ là một kẻ hậu sinh cách ông quá lâu, kém ông quá nhiều tuổi. Tôi nhìn thấy ông chủ yếu từ xa, trò chuyện trực tiếp với ông chỉ độc một lần, cũng cách đây vài năm rồi, khi sức khỏe của ông đã phần nào suy giảm.

Hôm đó, ông mới ở bệnh viện về, tiếp khách còn phải tựa vào lưng ghế, giọng nói có phần yếu ớt. Thế nhưng, ông đã trò chuyện với tôi rất thân mật, giản dị, chi tiết, khiến tôi dù không biết thực hư thế nào cũng đã phải hiểu rằng, ông có quan tâm tới tôi, tới những bài viết của tôi trên báo chí…

Đồng chí Trần Bạch Đằng là một cao nhân nhưng khi ta đến gần ông, ta không bị mặc cảm bởi sự nhỏ bé của mình mà dường như ta lại được tiếp thêm sức mạnh và niềm tin vào việc, chẳng có ai nhỏ bé ở trên đời. Có lẽ một người thực sự lớn phải là như vậy, vẫn giữ nguyên cốt cách, tầm cỡ của mình nhưng cũng luôn nâng cuộc đời này lên gần mình chứ không bao giờ làm thấp đi sự sống xung quanh.

Nhà bách khoa hiếm có

Trần Bạch Đằng đã làm được rất nhiều việc có ý nghĩa, trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Có lẽ vì thế nên gọi ông bằng bao nhiêu danh từ kèm theo cũng là chưa đủ. Với hôm nay, ông là một nhà cách mạng lão thành: Mới 17 tuổi (năm 1943), ông đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương; 19 tuổi tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa ở Sài Gòn...

Các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Hữu Thọ và Trần Bạch Đằng (thứ hai từ phải sang) tại phòng làm việc của Bác Hồ, mùa thu năm 1969. ẢNh: TL.

Ông là một nhà nghiên cứu thâm hậu, dù chỉ học ở trường lớp không nhiều nhưng suốt cả đời đã dày công đọc sách và nhìn đời để suy ngẫm để viết nên hằng hà sa số chữ về lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, về nhân tình thế thái, về vận nước và phận dân, về quá khứ và tương lai…

Ông là một nhà báo lão luyện, ngay trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp đã là Tổng Biên tập Báo Nhân Dân Miền Nam và cho đến những ngày tháng cuối cùng của đời vẫn thường xuyên xuất hiện trên nhiều ấn phẩm cả trong Nam lẫn ngoài Bắc với những bài viết lắm khi không quá nhiều chữ nhưng lại rất giàu tình yêu và trí tuệ, lúc nào cũng đau đáu nỗi đời ấm lạnh của muôn dân.

Ông là một nhà văn có sức lao động khổng lồ, trong cả thi ca lẫn tiểu thuyết và cả trong lĩnh vực viết kịch bản phim. Bút danh Hưởng Triều bây giờ vẫn còn được nhiều người nhớ cùng những vần thơ rất Nam Bộ: "Cụ Đồ ơi những vần thơ, Trăm năm thành đạt giấc mơ anh hùng. Đọc Vân Tiên giữa Thu Đông, Mùa xuân sắp đến, chiến công lẫy lừng. Vung gươm trong trận cuối cùng, Quê ta rồi sẽ tưng bừng Cụ ơi!..." (Trong Tổng tiến công đọc Lục Vân Tiên, viết năm 1968)…

Bút danh Nguyễn Trương Thiên Lý của ông đã hằn dấu ấn trong tâm trí nhiều độc giả và khán giả với bộ tiểu thuyết về sau được chuyển thể thành phim thành công rực rỡ "Ván bài lật ngửa". Ông còn là tác giả nhiều kịch bản phim nữa cũng như của những kịch bản sân khấu…

Một tấm gương lao động thực đáng khâm phục. Một nhà bách khoa hiếm có của nhiều thời!

Trường niên hồn Việt

Trong tính cách của Trần Bạch Đằng có rất nhiều nét điển hình của sĩ phu Nam Bộ, của trí thức người Việt, luôn lấy trí nghĩa làm đầu, luôn lấy tinh thần yêu nước thương nòi làm thước đo phẩm giá. Sống không đơn thuần là tồn tại mà phải sống có tư tưởng, tuân thủ và phát huy tinh hoa tư tưởng của những người đi trước để sao cho hồn Việt muôn đời trọn vẹn và đâm hoa kết trái. Và sống là phải thực với mình, với đời, năng động một cách nhất quán, không bao giờ thay đổi bản chất thiên phú để đánh đổi lấy những phù du thời cuộc.

Suốt đời mình, Trần Bạch Đằng luôn ý thức về sự bảo toàn nhân cách, nếp tư duy và nhịp điệu tâm hồn của mình trong mọi biến thiên của thời cuộc, trong mọi va đập, đấu tranh. Trí tuệ mẫn tiệp và vốn sống cũng như tri thức sách vở rộng lớn đã giúp ông trong các hoạt động vô cùng phong phú của cuộc đời đắc thọ của mình, luôn nhìn ra mau mắn, kịp thời và đúng đủ những vấn đề mới nảy sinh trong thực tế. Và không những thế, thường xuyên đưa ra được những gợi mở xác đáng và giàu triển vọng.

Ông từng có những dòng rất tâm huyết và đầy sức thuyết phục về hồn Việt: "Từ xa xưa, Việt Nam đã có tư tưởng, đã đấu tranh tư tưởng. Không kể thời tiền sử mà đối tượng của tư tưởng là giữa con người và thần linh, giữa sự sống tìm đường đi và những thử thách như tập quán kìm hãm tìm đường đi ấy, khi Việt Nam đã hình thành tư tưởng dân tộc và cao hơn một mức, hình thành tư tưởng quốc gia.

Điều này xuất hiện ở Việt Nam rất sớm - toàn bộ trung tâm tư tưởng và công tác tư tưởng bao quát xã hội là mảnh đất này, là mảnh đất thuộc về người Việt, người Việt khai phá và tạo lập ra nó, người Việt có quyền đối với nó và người Việt sống theo nền văn hóa mà tự quá trình hình thành dân tộc và xây dựng quốc gia đã xác lập.--PageBreak--

Chủ nghĩa yêu nước, đấu tranh vì nước chủ đạo toàn bộ tư tưởng và công tác tư tưởng của những người mang dòng máu hay cùng sống trong cộng đồng Việt Nam suốt trong nhiều thiên niên kỷ. Sự tồn tại của chúng ta cùng với vị trí mà chúng ta có, khi bước vào thế kỷ và thiên niên kỷ mới, chính là từ cơ sở không lay chuyển này. Chúng ta không bị đồng hoá, chúng ta sống theo phong cách của chúng ta, đó là một chân lý lịch sử. Người Việt Nam là người Việt Nam, đất Việt Nam là đất Việt Nam, không thể lẫn lộn, dù đóng khố, mặc áo bà ba, áo dài khăn đóng hay quần tây thắt cà vạt.

Cái có vẻ vô hình nhưng lại rất hữu hình, chúng ta gọi là hồn Việt Nam, có thể định nghĩa này hay định nghĩa khác rất bác học, rất tinh tế nhưng không một định nghĩa nào thay được một định nghĩa hiển nhiên: Ta là ta" ("Đấu tranh tư tưởng, cuộc đấu tranh trường kỳ", in Xuân Tân Tỵ 2001).

Trần Bạch Đằng tên thật là Trương Gia Triều, là hậu duệ của đại thần triều Nguyễn Trương Gia Hội (1822-1877). Cụ Trương Gia Hội từng thi đỗ cùng khoa với các danh nhân Nam Bộ như Nguyễn Thông, Phan Văn Trị, từng làm Tổng đốc thành Hà Nội giữa thời điểm vận nước nghìn cân treo sợi tóc, khi thực dân Pháp bắt đầu đánh chiếm miền Bắc nước ta.

Em ông nội của ông là Trương Gia Mô, tức Nghè Mô, con của Cụ Trương Gia Hội, một người học vấn cao rộng và tha thiết yêu nước thương dân. Theo "Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam" của hai soạn giả Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thể, Cụ Nghè Mô tập ấm làm quan một thời gian ngắn tại Bộ Công rồi từ chức về quê, từng tham gia phong trào Duy Tân nên có thời gian bị chính quyền thực dân bắt giam. Cụ có quan hệ mật thiết với Cụ Phan Bội Châu, Cụ Phan Chu Trinh…

Cụ cũng đã giúp Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn năm 1910. Trong những năm 1927-1929, Cụ Nghè Mô và Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Huy (tức Nguyễn Sinh Sắc) thường tiếp xúc với nhau về việc nước, khi thì ở Châu Đốc, lúc ở Cao Lãnh… Do quá phẫn uất bởi nỗi đau mất nước, Cụ Nghè Mô đã tuẫn tiết ở núi Sam (Châu Đốc) vào đầu năm 1930. Trước khi vĩnh viễn ra đi,  Cụ Nghè Mô đã chôn hết cả những tác phẩm của mình vào nơi mà Cụ gọi là Cúc Nông trũng thư (Cúc Nông là tên hiệu của Cụ). Một con người dũng cảm và đa cảm!

Câu chuyện bi hùng của người ông chắc chắn đã gieo vào trong tâm trí của Trần Bạch Đằng những ấn tượng thực sự sâu sắc. Không phải ngẫu nhiên mà sinh thời, Trần Bạch Đằng đã không chỉ một lần viết về những bậc tiền liệt như thế của dòng họ mình.

Ngay trong bài viết về đồng chí Lê Duẩn năm 2002, ông còn nhắc tới chuyện, khi nhắc tới cái chết của Cụ Nghè Mô, đồng chí Lê Duẩn mắt như chợt nhìn vào xa xăm, chép miệng: "Đau đớn thật!".

Bảo toàn cốt cách

Là một nhà cách mạng chuyên nghiệp,  một chiến sĩ dày dạn trên mặt trận tư tưởng, Trần Bạch Đằng đã dành nhiều tâm huyết và công sức cho những suy ngẫm về những vấn đề trọng đại của đất nước, về những người đi trước. Ông cũng có nhiều dịp để gần gụi với nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng ta và những ký ức, những ngẫm ngợi về các đồng chí ấy đã giúp ông đúc kết được không ít điều bổ ích cho hôm nay và mai sau.

Năm 1947, khi gặp Trần Bạch Đằng trên chiến khu, đồng chí Lê Duẩn, lúc đó là Ủy viên Trung ương được phái vào Nam phụ trách chiến trường, đã như biệt lệ, ghì chặt lấy người cán bộ mới 21 tuổi này và nhận xét: "Thanh niên hả, trẻ lắm!". Cái chất nồng say cách mạng đã được Trần Bạch Đằng lưu giữ trong mình đến nhiều năm sau nữa, dù đã tới tuổi "cổ lai hy", và được thể hiện trong sức làm việc, cách tư duy và nhìn nhận mọi sự trên đời…

Và cũng chính Trần Bạch Đằng sau này đã là một trong những người đúc kết được những bài học quý giá từ cuộc đời và hoạt động cách mạng của đồng chí Lê Duẩn: "Với một con người, cái đúng đắn về tư duy, chủ trương bao trùm vào những thời điểm tế nhị nhất - ở ta, 20 năm đánh Mỹ, cả ở miền Nam là chiến trường chính và ở miền Bắc, hậu phương lớn - tầm nhìn xa trông rộng, nhìn ta, nhìn bạn, nhìn thế giới, cộng với nghệ thuật của một nhạc trưởng sắc sảo, cống hiến hàng đầu của Anh Duẩn là ở chỗ đó. Lịch sử chân thật, đất nước ta đã là vị giám khảo công minh".

Trước khi qua đời, Trần Bạch Đằng đã di chúc lại cho người nhà rằng, dòng chữ trong nhà tang lễ hôm đưa tang ông sẽ không cần phải dùng quá nhiều chức danh mà chỉ giản dị đề "Vô cùng thương tiếc đồng chí Trần Bạch Đằng".

Nghe kể lại câu chuyện này, tôi cứ thấy rưng rưng. Mọi cao nhân đều vậy, bao giờ cũng khiêm nhường và giản dị đến độ lão thực. Là nhà báo ở lứa tuổi con cháu, tôi xin được nghiêng mình kính cẩn bày tỏ lòng vô cùng thương tiếc và kính trọng trước linh cữu của ông, đồng chí Trần Bạch Đằng!

.
.
.