Tướng Dương Thông: Người thủ trưởng, người thầy…
Ông là Dương Trọng Thông - tên thường gọi là Dương Thông, tuổi Giáp Tý (1924), quê gốc ở Khương Đình, Thanh Trì, Hà Nội. Thời kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động chủ yếu ở chiến trường Hà -
Tôi trở thành lính của Dương tướng quân
Sau giải phóng miền
- Bên Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) có ý định xin Cục ta một số cán bộ. Tôi đã hội ý trong lãnh đạo và thống nhất cậu có thể đáp ứng yêu cầu bên đó nêu ra...
- Thưa anh, bên đó nêu yêu cầu như thế nào? Liệu tôi có đáp ứng được không?
- Có 3 yêu cầu: Một là phải có quá trình công tác ở chiến trường miền
Đắn đo giây phút, tôi giãi bày với Trạm trưởng:
- Trong 3 yêu cầu ấy, tôi chỉ đạt được 2. Vì đã có quá trình nhiều năm ở chiến trường Nam Bộ và có một số tác phẩm in báo và tạp chí. Riêng tiêu chuẩn thương binh thì kẹt. Đợt giám định thương tật vừa qua, tôi chỉ hao tổn 19% sức khỏe. Không được xếp hạng mà chỉ được bồi dưỡng bằng 3 tháng lương (gọi là lương máu).
- Người ta nêu vậy. Song, chắc không đến nỗi cứng nhắc như thế. Theo tôi thì cậu cũng đã sêm sêm thương binh rồi còn gì. Để tôi trao đổi lại xem sao.
Mấy tuần sau, Trạm trưởng gặp tôi và thông báo tóm tắt:
- Bên An ninh đã chấp nhận cậu rồi. Chuẩn bị gấp để sang bên đó nhận nhiệm vụ. Ra đi, hãy cố gắng để xứng đáng với người lính từ chiến trường trở về.
Theo đúng thời gian quy định, tôi khoác ba lô con cóc lên đường chuyển ngành. Về tới cơ quan mới biết đó là một đơn vị trinh sát An ninh có cái tên lạ hoắc "Cục Bảo vệ Cơ quan và Văn hóa" (Cục A25 ngày nay) do ông Dương Thông làm Cục trưởng. Tôi được đưa về công tác tại Phòng Tổ chức - Chính trị do anh Nguyễn Ngọc Cát phụ trách.
Có nhẽ phải hơn một tuần sau đó tôi mới có cơ hội tiếp kiến Cục trưởng. Nói cho oai vậy, chứ thực tình là tôi gặp để xin chữ ký phê duyệt của ông vào bản báo cáo về công tác tổ chức của đơn vị. Phòng Cục trưởng bé tý tẹo, chừng mười mấy mét vuông. Cửa đi ra hai phía đều để ngỏ. Thấy ông đang chăm chú trước tập tài liệu dày cộp nên tôi không dám đánh động. Cũng may, nhờ vậy mà tôi mới có dịp ngắm kỹ thủ trưởng của mình: vầng trán mênh mông, chỉ còn nửa cái vành tóc phía sau. Đôi mắt dài, sống mũi cao, ngót nghét lục tuần mà da mặt vẫn phẳng phiu, trắng hồng dường như còn nguyên dấu vết của một thời trai trẻ...
- Có việc gì đấy?
Lời ông cắt ngang dòng suy tưởng của tôi. Ông hỏi theo quán tính khi phát hiện có bóng người trong phòng, mắt vẫn tập trung vào tập tài liệu.
- Dạ!... Tôi xin chữ ký của thủ trưởng vào bản báo cáo về công tác tổ chức cán bộ...
Ông ngước nhìn tôi nói:
- A!... Cậu là lính mới của Phòng 1 - Rồi ông khẽ gật gật đầu, pha vui - Thêm một người "rửa mặt thì lâu gội đầu thì chóng". Thế là từ nay tớ có đồng minh rồi, đỡ lẻ loi, hiu hắt. Tớ xem hồ sơ của cậu rồi. Có nhiều cống hiến ở chiến trường. Nhưng về cơ quan An ninh, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ cần phải qua đào tạo nghiệp vụ. Tạm ở Phòng 1 để có điều kiện vừa công tác, vừa đi học. Sẽ vất vả đấy. Có thắc mắc gì không?
- Dạ không! Thủ trưởng đã tiếp nhận, lại bố trí ở nơi có điều kiện học tập thì quá tốt.
- Cứ tạm thời ở đó. Khi có người thay, sẽ chuyển sang Phòng Trinh sát.
Nói là tạm thời, vậy mà tôi đã "bám trụ" ở Phòng Tổ chức, Chính trị A25 tới hơn 4 năm. Được Phòng giao cho vô số việc. Tới đầu năm 1980, học xong khóa nghiệp vụ, tôi mới được điều về Phòng Trinh sát.
Những ngày “viết lén” và lời khích lệ của thủ trưởng
Người lính sau chiến tranh với bao nỗi lo toan về gia đình, cuộc sống, chỗ đứng chỗ ngồi, học hành để khỏa lấp lỗ thủng về kiến thức do chiến tranh để lại. Thành thử phải gác lại mọi ước mơ, sở thích, kể cả cái nghiệp văn chương. Cũng còn một lý do nữa khiến tôi tạm gác bút nhiều năm bởi những câu vui đùa bóng gió: "Lãnh đạo người ta cần báo cáo nặng chất nghiệp vụ chứ không cần pha chất văn chương..."; lại nữa: "Anh nào sính văn chương thì sang Hội Nhà văn mà làm, chứ ở đây đâu phải đất dụng võ...".
Khốn nỗi, bởi đã là cái nghiệp, là sở thích thì không thể bỏ được, nên tôi cầm bút trở lại. Nhưng là viết chui, viết lén. Thời đó, vợ tôi dạy học trên Yên Bái. Tôi độc thân ở Hà Nội. Được đơn vị bố trí cho một chỗ ngủ ở tập thể Quán Thánh, nhưng vẫn xin cơ quan cho được bám "phố hàng bàn", để có điều kiện làm việc thêm ban đêm. Vì giờ chính quyền đã được ưu tiên đi học. Đó là cơ hội tốt nhất để tranh thủ viết lách thêm.
Viết tới gần chục cái truyện ngắn, mấy chục bài thơ. Nhưng mình sáng tác cho mình thưởng thức. Chẳng dám gửi đi đâu. Chẳng dám cho ai đọc. Mãi tới đầu năm 1981, máu liều bốc lên, tôi mang 2 cái truyện tới Báo Văn nghệ ở số 17 Trần Quốc Toản, gửi đại vào đó để cầu may, chứ thời đó - cái thứ văn chương nghiệp dư như chúng tôi dễ gì xen vào mảnh đất thiêng này được.
Thế là từ đó, tuần nào cũng vậy, cứ tới ngày phát hành Báo Văn nghệ là tôi lại ra sạp báo mua một tờ. Rồi tới một hôm, tôi sững người, không tin vào mắt mình khi phát hiện cái truyện ngắn có tên là "Xa lạ" của mình đĩnh đạc nằm trên mặt báo. Tôi đọc đi đọc lại tới mấy lần. Hôm sau tới cơ quan, chẳng dám khoe với ai, dẫu rằng trong lòng cứ khấp khởi mừng thầm. Bẵng đi cả tháng sau, một hôm Cục trưởng Dương Thông đi công tác ở miền
- Chào nhà văn! - Chuyện cậu viết được đấy. Đêm hôm qua tớ vừa nghe trong chương trình đọc chuyện đêm khuya. Về Cục này mà viết được như cậu là rất tốt. Rất dễ tiếp cận địa bàn trí thức, văn nghệ sỹ.
Tôi coi đó là một ngày vui nhất trong cuộc đời cầm bút của mình. Nó còn bâng lâng hơn cả cái thời tôi được đăng cái truyện ngắn đầu tay trên Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng miền
Người dạy tôi về phương pháp thuyết trình
Từ sau cái sự kiện văn chương ấy, thi thoảng Cục trưởng Dương Thông đi nói chuyện về tình hình an ninh ở địa bàn, ông thường gọi tôi cắp cặp đi theo. Với tôi, đó là điều quá may mắn. Bởi ngay từ khi mới về cơ quan, tôi đã nghe anh em nhận xét: "Thủ trưởng nhà mình là một cây lý luận về công tác bảo vệ An ninh nội bộ và Văn hóa - Tư tưởng. Nói chuyện rất ấn tượng, được nhiều cơ quan tín nhiệm, ca ngợi. Anh nào được cắp cặp đi theo là học được ối chuyện...".
Sau này tôi mới nghiệm ra những nhận xét trên thật chí lý. Ông trình bày như một nhà sư phạm. Tư liệu ứ đầy, trình bày chủ yếu theo đề cương chứ không bao giờ bê nguyên tài liệu ra đọc. Tất cả các buổi theo ông, tôi đều ghi chép rất tỷ mỷ. (Kể cả những dẫn chứng ông nêu ra trong bài nói). Thành thử một buổi "nghe đến mỏi tay". Phải tới ba, bốn chục trang dày đặc chữ.
Một lần, sau khi nghe ông trình bày có tính minh họa Nghị quyết Trung ương III (gọi tắt là Nghị quyết 3 chuyên đề), trên đường về ông nói với tôi: Làm công tác bảo vệ an ninh địa bàn, phải chịu khó tích lũy tư liệu. Phải học ăn, học nói. Chỉ tới địa bàn để nắm tình hình không là chưa đủ, phải có thông tin trao đổi lại với người ta, gọi là có đi, có lại. Nhất là những thông tin liên quan tới an ninh, trật tự. Đó là công tác phòng ngừa tốt nhất, góp phần nâng cao cảnh giác bảo vệ địa bàn. Địa bàn cấp Bộ, Ban có thể lãnh đạo Cục giúp các cậu. Các đơn vị cơ sở của người ta thì cấp phòng phải lo. Có lẽ thấm nhuần quan điểm này mà A25 có một dàn thuyết trình viên nổi tiếng: khối Cơ quan tham mưu có Đại tá, Trưởng phòng Nguyễn Thanh Sơn; khối Văn học - Nghệ thuật - Giáo dục có Đại tá, Trưởng phòng Trần Việt Anh, Đại tá Trưởng phòng Nguyễn Văn Lợi; Đại tá Văn Công Thượng nổi tiếng ở các cơ quan khối Y tế... địa bàn Thủ đô Hà Nội có Đại tá, Trưởng phòng Lê Hữu Duy; lớp kế tiếp là Trưởng phòng Trần Bình...
Tôi hiểu ý ông khi nhắc tới chuyện này. Thế là từ đó ngoài việc ghi chép, tích lũy nội dung bài nói, bài giảng của ông, tôi rất lưu ý tới phương pháp trình bày, từ cách đặt vấn đề tới phân tích, đánh giá sự việc, cho tới những dẫn chứng nêu ra... rất chặt chẽ, đầy tính thuyết phục.
Một lần khác, ông tâm sự: Minh họa Nghị quyết phần nói về công tác An ninh, Quốc phòng, nếu chỉ đem Nghị quyết ra đọc thì cơ quan chủ quản người ta không cần tới mình. Vì vậy, phải chứng minh bằng những nội dung cụ thể. Từ âm mưu, phương thức hoạt động của địch đối với đất nước ta, tới ưu khuyết điểm của ta trong công tác bảo vệ an ninh Tổ quốc... rồi mới tới chủ trương, biện pháp Nghị quyết nêu ra. Tùy đối tượng nghe mà phải chuẩn bị nội dung cho phù hợp. Phải nói những cái người ta cần nghe, cần biết, chứ không thể chung chung, nhàm chán, vô thưởng, vô phạt...
Rồi tới một hôm tôi bị ông "bỏ bom" bất ngờ. Đầu giờ làm việc, ông gọi tôi sang phòng, nói: "Này! Có một việc cậu phải đi chữa cháy cho mình. Câu lạc bộ Thăng Long mời mình tới thông báo tình hình an ninh. Đã có lịch từ tháng trước. Nhưng có cuộc họp đột xuất ở phía
Thấy tôi đứng lặng như trời trồng, ông động viên:
- Cậu cứ mạnh dạn lên. Tớ đã nghe anh em phản ảnh rồi, cậu có thể đảm nhiệm việc này. Có điều ở đây toàn những "đại lão gia" nên phải thận trọng. Cứ tự tin mà trình bày. Nói Phòng Tham mưu cung cấp thêm tư liệu. Nếu các cụ có chất vấn việc gì mà nắm chưa chắc thì cứ xin khất. Lưu ý là phải khiêm tốn, tự tin... Tớ sẽ có thư xin lỗi các cụ và giới thiệu với Ban chủ nhiệm câu lạc bộ....
Khoảng một tuần sau, vừa ra tới Hà Nội, ông đã thông báo cho tôi: "Này! Cậu gì đó ơi!... (Tính ông vậy, đôi khi có những giây phút đãng trí bác học như thế) Tớ điện ra hỏi các cụ bên câu lạc bộ, nhìn chung là đều khen cậu nói rất được. Hầu như không có sơ suất gì...".
Thế là từ đó tôi bỗng trở thành "phái viên" của ông và Tướng Quang Phòng (ấy là tôi cảm nhận và tự phong cho mình như thế). Hai "đại ca" đã giao cho tôi đi thông báo tình hình ở một số cơ quan cả Trung ương và địa phương. Tôi đã cố gắng hết sức mình để khỏi phụ lòng tin của các vị tiền bối.
Nỗi niềm ai tỏ chăng ai?
Thời đó, lớp trẻ chúng tôi ngưỡng mộ, coi những người như ông là thành đạt, mãn nguyện trên con đường sự nghiệp. Gần ông, đôi khi tôi lại ngộ ra hình như không phải vậy. Thôi thì biết thế, bởi đó chỉ là cảm nhận thoáng qua, ấy là những lúc thấy ông trầm ngâm, ít nói, ít qua lại các phòng. Đôi khi muốn tiếp cận ông nhưng ngại.
Thời đó, gặp lãnh đạo ngại lắm. Ở cơ quan thì cả huyện người. Tới nhà riêng thì trăm thứ phiền, cả tuần mới có một ngày nghỉ; nhà thì quá chật chội. Oách như nhà Cục trưởng (thuê của nhà nước) tọa lạc trên phố Triệu Việt Vương, giữa trung tâm nội thành đàng hoàng, với 7 nhân mạng (2 vợ chồng và 5 thằng con trai lộc ngộc) mà cũng chỉ vỏn vẹn ba chục mét vuông. Chủ nhà được ưu tiên ở cái góc có cửa sổ phía mặt tiền vừa là chỗ làm việc, vừa là phòng khách. Trên bàn, dưới ghế sa lông ngổn ngang những sách, báo, đồ lưu niệm... Chỉ cần có hai, ba vị khách vào là kẹt cứng. Tới khi được bổ nhiệm chức Tổng cục phó, được bổ sung thêm một tý diện tích thì cũng chỉ đủ san bớt một cặp vợ chồng thằng con vừa cưới vợ. Cám cảnh, mỗi lần phải đem tài liệu tới nhà, liếc ra cửa, thấy có một vị khách đang lúi húi tháo giày là tôi nhanh chóng dở "chước ba mươi sáu" ra... chuồn!
Duy có một lần, vì lý do khách quan - trời mưa, nhà lại không có khách; cùng với một lý do chủ quan liên đới tới đơn vị mình mà tôi nấn ná ở lại để tâm sự với ông, ngõ hầu mong được ông cảm thông mà nới tay trong việc xử lý cấp dưới của mình.
Số là năm đó (1989), theo yêu cầu của cơ quan chủ quản, đơn vị tôi cử một sỹ quan An ninh đi công tác nước ngoài với trách nhiệm tham mưu trong công tác đảm bảo an toàn cho đoàn sinh viên Việt
Cũng thời đó, tình hình kinh tế đất nước quá khó khăn. Toàn Đảng, toàn dân tận tâm, tận lực lo hàn gắn vết thương chiến tranh để lại; lo đối phó với nạn bao vây, cấm vận của Hoa Kỳ; lo khắc phục những tồn tại yếu kém trong quản lý kinh tế, xã hội cùng với căn bệnh chủ quan, duy ý chí, nạn tham ô, tham nhũng, tiêu cực... Trong khi các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động "Diễn biến hòa bình", phá hoại tư tưởng, kích động vượt biên, di tản nhằm tập hợp lực lượng thực hiện âm mưu chống phá Việt Nam lâu dài. Vì thế, các đoàn Việt
Theo thiển nghĩ của tôi, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu để có biện pháp khắc phục hữu hiệu: Vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế, cải thiện đời sống dân sinh; vừa tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, thực hiện dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội... đến một lúc nào đó, có cho người ta ở lại, người ta cũng không ở. Giàu sang, phú quý gì cũng là tha phương cầu thực... Rào đón mãi, tôi mới dám thổ lộ nỗi lòng mình như thế.
Ông vê một điếu thuốc lào, đốt tới bốn, năm que diêm mà vẫn chưa mồi được vào nõ điếu. Có lúc ngọn lửa đã sém vào ngón tay, ông mới vứt đi rồi lại quẹt que khác. Tôi lặng im, chờ tiếng điếu cày rít lên giòn giã để được chiêm ngưỡng cái phút giây thần tiên của cái thứ đặc sản từ xứ biển Vĩnh Bảo, Hải Phòng gửi về.
Ông tựa vào ghế, mắt lim dim, bàn tay trái nhịp nhịp vào cái đầu láng bóng. Rồi ông mơ màng như nói với làn khói thần tiên kia: "Được! Được đấy!... To gan thật, bạo phổi thật!...". Bỗng ông ngồi bật dậy, ném cái nhìn sắc lẹm khiến tôi muốn vã mồ hôi giữa cái buổi chiều mưa se lạnh ấy: "Cậu nói đúng. Có bản lĩnh đấy. Về nói với anh em cứ yên tâm, cấp trên không phê phán gì đâu. Đó là trách nhiệm của cơ quan người ta và của chính đương sự. Các cậu có cử cả chục trinh sát đi theo cũng bó tay. Giữ tâm hồn, tình cảm, chứ giữ chân người ta sao được...".
Tôi thở phào nhẹ nhõm. Thật hú vía! Ngừng giây lát rồi ông tiếp, giọng đều đều, mơ hồ như nói với riêng mình: "Cái nghề làm dâu trăm họ này vất vả, phiền toái và có lúc thật cay đắng. Thành tích của người ta, mình lặng lẽ vui lây. Khi địa bàn có nội gián, xảy ra cháy, nổ, tham ô, tham nhũng, mất tài liệu, cán bộ vượt biên, đào nhiệm, lưu giữ, tán phát tài liệu xấu… là mình lĩnh đủ…".
Tôi ái ngại nhìn ông, định xen vào một câu gọi là để chia sẻ, nhưng cổ nghẹn lại bởi hình ảnh, dư luận từ chục năm trước bỗng dội về trong tôi. Dạo ấy, thấy thủ trưởng ít lời, ít qua lại các phòng, lớp trẻ chúng tôi đoán già, đoán non, đều sai bét.
Thông qua mấy "đại ca" mới biết sự tình, mà cũng ở dạng "hình như thủ trưởng bị cấp trên "cạo" về cái vụ một ông "cốp" nào đó đi nước ngoài rồi trốn ngang đường". Ít lâu sau cũng lặp lại hình ảnh và dư luận cũ: "Một nghệ sĩ nổi tiếng của chế độ Sài Gòn cũ, sau 30/4/1975 đã không di tản mà ở lại phục vụ đất nước. Mấy năm sau được cử đi biểu diễn phục vụ kiều bào ta cũng trốn ở lại luôn".
Có không ít lời bàn xung quanh sự kiện này. Thậm chí có những nhận định rất nặng nề: "Bảo vệ an ninh nội bộ mà để xảy ra như thế là gay to. Thủ trưởng của cậu chưa chắc còn yên vị ở cái ghế đó, chứ nói chi tới chuyện sẽ còn lên to. Thật tiếc!…". Ấy là lời bàn, dị nghị, suy luận tùy hứng, sự thực thì ông "hổng có sao", vẫn thế.
Mối nhân duyên kỳ ảo
Thời mới về đơn vị, bởi cái tính mặc cảm thân phận nên tôi là người chậm được quen biết các phu nhân lãnh đạo. Tỷ như trường hợp “mệnh phụ phu nhân” Dương Tướng quân, phải tới cả năm sau tôi mới có cơ hội tiếp kiến bà, mà cũng chỉ giới hạn trong lúc chờ ông duyệt báo cáo do đơn vị tôi dự thảo.
Vì yêu cầu gấp nên lãnh đạo phòng giao cho tôi đem đến nhà thủ trưởng. Dẫu chỉ là một mẩu thời gian ngắn ngủi, nhưng cũng đủ cho tôi cảm nhận: Đó là một "bà lớn" tính tình vui vẻ, xởi lởi với cấp dưới của chồng. (Cái điều mà theo thiển nghĩ của tôi không phải bà lớn nào cũng vậy). Hai người thật đẹp đôi. Quả là "Anh hùng sánh với thuyền quyên". Và cũng phải nhiều năm sau, thông qua những người quen và người thân trong gia đình, tôi mới biết đôi chút về thiên tình sử của họ.
Bà là Trần Thúy Nhàn, quê gốc Thành
Tình cờ, tôi được đọc mấy trang ghi chép của ông mới càng thương yêu, cảm phục, thấu hiểu bao sự dang dở, cách xa trong tình yêu đôi lứa của cái thời "Muốn theo em về Kim Sơn/ Sợ qua Phúc Nhạc du côn mượn đầu". Thế đấy, những cuộc hẹn hò, gặp gỡ có khi phải đổi bằng máu và nước mắt! Tuổi trẻ chúng ta, “tình yêu thời A còng” mấy ai hiểu nổi…
Thế rồi, chẳng bao lâu họ nên vợ nên chồng, thân gái thời tao loạn một mình tần tảo nuôi con. Hòa bình 1954 bà về thủ đô quê chồng, công tác trong ngành Du lịch. Thời đó ngành Du lịch chưa phát triển bao nhiêu. Lương ba cọc ba đồng. Rồi lại sinh con, sòn sòn thêm mấy đứa. Thế là gánh nặng gia đình đè cả lên vai người đàn bà đào tơ liễu yếu. Với 5 thằng con sàn sàn trứng gà trứng vịt cộng với đức ông chồng đặc sệt nho sĩ, chẳng biết làm việc gì, chỉ suốt ngày chúi đầu vào công việc cơ quan, ngụp lặn trong đống tài liệu, sách báo… Ấy là khi vui bà tâm sự với những người thân quen như vậy.
Tuy nhiên, trong số những phu nhân lãnh đạo mà tôi được biết thì bà là người bài bản nhất, "mốt" nhất trong xã giao với chồng. Hầu như tất cả các chuyến đi công tác của ông bằng đường hàng không, dù đi nước ngoài hay đường bay nội địa, bà đều sắp xếp thời gian ra sân bay tiễn và đón.
Có lần, vào cao điểm mùa nóng, ông ái ngại nói: "Trời nắng như thiêu. Ngoài sân bay còn nóng hơn. Rồi trên đường đi nữa. Qua được cây cầu "dài nhất thế giới" có mà ngộp thở. Bà nên ở nhà cho khỏe…". Thực tình giao thông hồi đó thật khủng khiếp - chưa có cầu Thăng Long và cố nhiên cũng chưa có cầu Chương Dương. Tất cả mọi phương tiện đổ dồn lên cây cầu Long Biên ọp ẹp. Tắc cầu như cơm bữa. Nhiều khi xe xếp hàng bò qua được cầu còn lâu hơn thời gian bay từ TP Hồ Chí Minh ra. Để trấn an nỗi ái ngại của ông, bà cười, pha vui: "Nắng nôi thì đáng gì! Tôi đi để được gần ông nhiều hơn. Bù đắp những tháng năm xa cách…". Ôi! Quả là mối duyên tình đầy lãng mạn.
Năm 1995, ông lâm bệnh, từ biệt dương thế nhằm ngày 26/3 âm lịch. Trong nỗi xót thương vô hạn, có lúc tâm thần bất định, bà thổ lộ trước bao người mà như nói với riêng mình: "Khổ thân ông ấy. Về dưới kia biết lấy ai chăm lo, săn sóc. Để tôi đi… Tôi đi cùng để có người đỡ đần…". Nhờ có những người thân can ngăn nên dần dần bà cũng nguôi ngoai. Đùng một cái, năm 2000, vào đúng ngày giỗ thứ 5 của ông (26/3 âm lịch) bà lặng lẽ ra đi. Một sự trùng hợp đến kỳ lạ. Đúng ngày, đúng tháng. Có khác chăng chỉ là thời điểm bà đi sau ông đúng 4 tiếng đồng hồ.
Cái điều lạ kỳ ấy cứ ám ảnh mãi trong tôi. Có lần tôi hỏi bác sĩ Ngô Ánh Phương (con dâu thứ của ông bà), công tác tại Cục Y tế Bộ Công an về sự kiện này, thoáng buồn trên gương mặt phúc hậu, hai khóe mắt đỏ hoe, Ngô Ánh Phương ngậm ngùi: "Có lẽ vì quá thương ông mà bà đã chọn đúng ngày đó để ra đi…".
Biết bao lần tôi thầm nghĩ, thầm hỏi: Không biết trong cõi nhân gian có bao lứa đôi như thế, như mối duyên tình kỳ ảo của thủ trưởng tôi?...
Ái Mộ, tiết lập hạ - năm Kỷ Sửu
