Trầm luân nào có chừa ai
Sau giải phóng 1975, ông đã trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau, trước khi nghỉ hưu từng giữ chức Quyền Trưởng ban Tôn giáo của Chính phủ. Ông là Phan Chánh Dinh, tức nhà thơ Phan Duy Nhân, tức Nguyễn Chính, một nhân vật mà “cuộc đời vinh quang chung không ít, trầm luân riêng cũng nhiều”.
Bị tù vì… một bài thơ
Tôi quen biết ông từ năm 1974 tại tỉnh Quảng Đà trong kháng chiến chống Mỹ. Tết Đinh Hợi 2007, tôi gặp lại ông tại TP Hồ Chí Minh sau gần chục năm ông rời Hà Nội vào Nam công tác và về hưu trong đó. Gặp nhau sau nhiều năm xa cách, lại trong ngày đầu xuân, dẫu lúc đầu không muốn, nhưng rồi, như ông nói vui "nể lòng người cũ vâng lời một phen", ông đã bộc bạch với tôi về cuộc đời của mình...
Phan Duy Nhân sinh năm 1941, quê Quảng Trị, nhưng lại sống từ nhỏ ở Đà Nẵng. Tham gia cách mạng từ năm 15 tuổi, ông là thương binh, trải qua ba lần bị thương và ba lần bị địch bắt, tù đầy, trong đó có 6 năm bị giam ở nhà tù Côn Đảo.
Lần đầu tiên Phan Duy Nhân bị bắt là vào năm 1959, khi vừa 18 tuổi. Lần thứ hai anh bị bắt vào năm 1965. Năm đó, sau cuộc đảo chính lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm 1/11/1963, phong trào đấu tranh đô thị tiếp tục diễn ra sôi nổi ở Huế, Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ…
Ở Huế, một số anh chị em học sinh, sinh viên ra tập san Nhận thức, đăng nhiều bài viết cổ vũ tinh thần đấu tranh của giới trẻ, kêu gọi đồng bào tham gia phong trào yêu nước.
Phan Duy Nhân vừa dạy học vừa theo học các chương trình chứng chỉ tại Viện Đại học Huế; cùng một số trí thức, sinh viên tham gia phong trào đấu tranh tại thành phố này. Một lần, từ Hội An, anh nhờ một người bạn đem bài thơ anh mới sáng tác ra Huế gửi cho các bạn cùng phong trào để đăng trên tờ Nhận thức.
Không biết vì lý do gì mà bài thơ ấy đã lọt vào tay An ninh Quân đội Sài Gòn. Lập tức Phan Duy Nhân bị bắt. Bài thơ ấy có đoạn: "Hãy đứng dậy tất cả/ Đấu tranh không mất gì/ Trừ cái gông trên cổ/ Trừ dây xiềng trên tay/ Hãy chiếm mỗi ngã tư/ Trái tim làm khí giới…/ Cùng anh em đồng đội tiến lên.../”.
Tôn Thất Xứng, Thiếu tướng Tư lệnh Vùng 1 chiến thuật Quân đội Sài Gòn trực tiếp gặp anh. Xứng cầm bài thơ do chính tay Phan Duy Nhân viết đưa ra trước mặt anh, ngọt nhạt:
- Ai dạy cho anh Tuyên ngôn Cộng sản để anh biến thành thơ ca kêu gọi nổi loạn này?
Phan Duy Nhân đáp:
-Tôi làm bài thơ này là từ suy nghĩ và cảm xúc của tôi, nay mới nghe ông nói nó giống với Tuyên ngôn Cộng sản! Quả thật tôi có đọc Tuyên ngôn Cộng sản ở thư viện Đại học Huế từ bản in bằng tiếng Pháp.
Nó có một câu rất hay, đập vào tôi rất mạnh. Câu ấy kêu gọi người nô lệ đấu tranh không mất gì cả, có mất chăng chỉ là mất cái xiềng mà thôi. Còn trong bài thơ của tôi, cái gông là do tôi nghĩ ra!
Xứng sa sầm nét mặt, hỏi lại anh có đúng là tại thư viện Đại học Huế có bản Tuyên ngôn Cộng sản không, và vẫn cố giữ cái giọng ngọt nhạt như trước:
- Anh nói vậy thì tôi biết vậy. Thôi được, anh là người có học, lại dạy văn, hôm nay tôi tạo điều kiện cho anh ở lại đây, để anh có thời gian suy nghĩ viết cho tôi bài bình giảng về bài thơ của anh!
Thế là Phan Duy Nhân bị đưa về giam tại Trại giam số 11 của Quân đoàn 1, bị An ninh Quân đội Sài Gòn dùng cực hình tra tấn cốt tìm ra đầu mối tổ chức cách mạng hoạt động bí mật tại Hội An và Đà Nẵng. Sau nửa năm bị giam giữ, không khai thác được gì ở anh, lại thấy dư luận bên ngoài bất lợi, chúng phải thả anh ra.
Sau đó, có dịp trở lại thư viện Đại học Huế, Phan Duy Nhân thử tìm lại cuốn Tuyên ngôn Cộng sản mà anh đã đọc thì không còn. Chắc sau ngày bắt anh, viên Thiếu tướng Tôn Thất Xứng đã cho người vào lấy đi!
Bàn thờ người sống và ngày trở về
Năm 1966, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thường vụ Thành ủy, Phan Duy Nhân được cử tham gia hoạt động công khai trong phong trào đấu tranh của Phật giáo, thanh niên, học sinh, sinh viên Đà Nẵng.
Anh là Ủy viên Thường vụ của Ban lãnh đạo “lực lượng nhân dân tranh thủ cách mạng”, phụ trách kế hoạch tranh đấu; Ủy viên liên lạc miền Vạn Hạnh của Phật giáo miền Trung, từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, đồng thời là cán bộ đấu tranh chính trị của Thành ủy Đà Nẵng trong cuộc đấu tranh nổi dậy làmchủ thành phố Đà Nẵng 76 ngày đêm.
Sau khi cuộc nổi dậy bị đàn áp, bị lộ, Phan Duy Nhân phải thoát ly lên chiến khu. Tết Mậu Thân năm 1968, anh được giao làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời TP Đà Nẵng sau khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy chiến thắng.
Sáng mùng 1 Tết, anh dẫn đầu cuộc biểu tình, thị uy của bà con phật tử và đồng bào TP Đà Nẵng từ trung tâm thành phố đi chiếm trụ sở chính quyền. Đoàn biểu tình kéo từ Chùa Tỉnh hội Phật giáo ra đường Ông Ích Khiêm thì bị địch đàn áp. Phan Duy Nhân bị bắn gãy chân và bị bắt đem về Ty Cảnh sát Gia Long, sau đó bị giải qua Trung tâm thẩm vấn Thanh Bình và nhà lao Kho Đạn, Đà Nẵng.
Ngày 16/9/1968, Phan Duy Nhân bị đầy đi Côn Đảo. Năm 1970, do có một người bạn tù cùng bị giam với anh bị đánh đập đến chết, tin tức trong tù đưa ra làm nhiều người lầm tưởng anh đã hi sinh.
Bạn anh, Hoàng Phủ Ngọc Phan, một sinh viên cùng hoạt động trong phong trào đấu tranh ở Huế, lúc đó đang công tác ở chiến khu Trung ương Cục, đã viết một bài báo để tưởng nhớ anh, nhan đề: "Phan Duy Nhân, một nhà thơ trẻ biết xung phong".
Bài báo ấy được in trên Báo Văn nghệ giải phóng và được Đài phát thanh giải phóng phát đi. Tờ Đất nước của một nhóm trí thức và sinh viên yêu nước xuất bản nửa công khai hợp pháp ở Sài Gòn cũng đăng bài tưởng niệm anh.
Tại một quán cà phê trên đường Lê Lợi, Sài Gòn, một số bạn bè của anh ngày trước, trong đó có cả P.N.N., một cây bút chống Cộng nhiều người biết, đã tổ chức một buổi gặp mặt để tưởng nhớ anh.
Tin anh bị chết trong tù đến tai cha mẹ anh, khi ấy ông bà đã về sinh sống tại huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên, làm cả hai như rụng rời chân tay. Sau khi người em gái của anh bị chết đuối, rồi người em trai tật nguyền lại bị bom Mỹ giết, mẹ anh đã khóc hết nước mắt, nay lại nghe tin anh - người con duy nhất còn lại bị chết trong tù, bà cụ phát bệnh, bị tâm thần rất nặng.--PageBreak--
Còn cha anh nghẹn ngào tìm tấm ảnh anh để lại, phóng to, lập bàn thờ để thờ người con còn lại đã hi sinh trong tù, lấy ngày được bạn bè của con báo tin làm ngày giỗ anh.
Cuối tháng 3/1975, Đà Nẵng được giải phóng, Phan Duy Nhân, tức Nguyễn Chính, bất ngờ gặp lại một người em họ vừa "di tản" từ Huế vào Đà Nẵng. Biết tin cha mẹ còn sống, anh viết vội lá thư nhờ người em họ mang ra Phú Lộc báo tin cho cha mẹ biết anh đã trở về.
Người em họ mang lá thư của anh về giữa lúc cha anh đang chuẩn bị cơm cúng vào đúng ngày giỗ anh. Ông vội vào Đà Nẵng, gặp anh trong nghẹn ngào nước mắt. Hôm sau trở lại Phú Lộc, ông dẹp bàn thờ đã 5 năm hương khói cho người con trai, nay người con ấy trở về, mừng mừng, tủi tủi.
Trầm luân nào có chừa ai
Sau ngày giải phóng, Nguyễn Chính lần lượt đảm nhiệm nhiều cương vị công tác khác nhau; đầu những năm 1990, ông được điều động ra Trung ương, làm Phó Trưởng ban Tôn giáo của Chính phủ, sau đó ông được giao làm Quyền Trưởng ban.
Khi nghe tin ông được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định bổ nhiệm làm Trưởng ban Tôn giáo của Chính phủ, tôi và nhiều đồng chí, bạn bè thật mừng cho ông. Nhưng rồi tôi thấy ông đột ngột chuyển về Ban Dân vận Trung ương, làm chuyên viên cao cấp về tôn giáo của Ban. Rồi năm 1998, lại thấy ông trở lại làm Phó ban Tôn giáo của Chính phủ, phụ trách phía
Ông chuyển vào công tác tại TP Hồ Chí Minh. Cuối năm 2001, đúng 60 tuổi, gọi điện cho tôi, ông vui vẻ báo tin vừa được nghỉ hưu!
Trò chuyện cùng ông trong dịp Tết vừa qua, tôi mới biết, thời gian chuyển về Ban Dân vận Trung ương và trước đó trên 25 năm, ông đã gánh chịu một "kiếp nạn chết người", mà trong một thời gian dài chính ông cũng không hề biết.
Có người gửi đơn tố cáo Nguyễn Chính đã đầu hàng, khai báo và có hành động phản bội trong thời gian bị bắt và bị tù. Đến khi có quyết đinh đề bạt ông làm Trưởng ban Tôn giáo của Chính phủ thì việc này lại được đưa ra.
Sau thời gian ông chuyển về Ban Dân vận Trung ương, sự việc được xác minh lại. Thì ra có một người trùng tên Nguyễn Chính với ông, cũng bị bắt và bị tù Côn Đảo như ông, đã đầu hàng, phản bội.
Song, điều khác là người đó nhiều tuổi hơn ông, bị bắt trước ông, ra tù cũng trước ông, khi ra tù đã trình báo với tổ chức tất cả những việc mình làm và đã bị xử lý kỷ luật. Người đó vẫn còn sống và đã gặp những người được giao đi xác minh sự việc. Thế là sự thật được sáng tỏ!
Nguyễn Chính không chỉ gặp những chuyện không vui như thế trong công việc. Trong cuộc sống riêng tư, ông cũng không phải là người gặp may mắn. Năm 1979, trong khi đi công tác ở miền núi Quảng
Mẹ ông càng buồn hơn và bệnh tâm thần càng nặng thêm. Nay gần 90 tuổi rồi, nhìn thấy ông, có lẽ trong tiềm thức vẫn biết là con mình, nhưng bà cụ lại gọi Nguyễn Chính bằng ông như gặp một người khách lạ.
Cưới vợ được ít ngày, ông rời thành phố ra căn cứ. Khi vợ có thai 5 tháng, ông thoát ly hẳn, nên vợ sinh ông không biết mặt con. Sau đó ông lại bị bắt, bị tù 6 năm ở Côn Đảo, đến khi gặp thì con đầu lòng của ông đã gần 10 tuổi.
Sau giải phóng vợ chồng ông có thêm một cháu gái út; khi cháu 19 tuổi, đang học đại học thì chẳng may gặp tai nạn, bị bỏng gần như toàn thân… Và còn bao nhiêu chuyện buồn khác mà ông không muốn tôi viết ra, như mấy câu thơ ông đã gửi gắm lòng mình trong đó: "Những nỗi đau âm thầm/ Khối tình chôn giữa ngực."
Nhưng có một câu chuyện về ông mà tôi không thể không viết. Đó là câu chuyện về hai lần ông gặp lại một kẻ thù cũ của mình.
Tết Mậu Thân 1968, ông bị địch bắn gãy chân và bị bắt. Viên sĩ quan cảnh sát dã chiến Sài Gòn N.C đã cầm cẳng chân bị bắn gãy của ông, xoay qua xoay lại nhiều lần để tra hỏi ông tại Ty Cảnh sát Gia Long.
Sau giải phóng Đà
Mười năm sau đó, trong một chuyến đi công tác qua Ninh Thuận, ông bất ngờ gặp lại N.C. đã được trở về với gia đình và càng ngạc nhiên hơn khi thấy trong nhà của viên sĩ quan cảnh sát Sài Gòn năm xưa có treo trên cột tấm ảnh ông mà N.C. cắt ra từ một tờ báo nào đó, chụp lại và phóng to hơn! Hai người ôm nhau nghẹn ngào…
Nghe tôi bảo cuộc đời của ông kể cũng lắm chuyện trầm luân, Nguyễn Chính cười, nói luôn:
-Đâu phải chỉ có tôi, "trầm luân nào có chừa ai". Nhưng tôi thấy mình còn may mắn lắm. Bao nhiêu đồng chí, đồng đội và cả người thân của mình không còn, nói chi đến chuyện trầm luân! Mình còn sống được sau bao nhiêu năm chiến tranh, tù đày là còn hạnh phúc và may mắn lắm so với biết bao nhiêu người.
Vì thế tôi tự nhủ lòng mình, đừng có oán trách ai, hãy luôn luôn sống thanh thản, quên đi những chuyện buồn, những trắc trở trong cuộc đời để luôn vui, khỏe và làm được điều gì có ích thì làm trong quãng đời còn lại của mình.
Chia tay nhau, ông tặng tôi một bài thơ mới viết, nhan đề Biển. Vì hàng chục năm nay ông không gửi thơ đăng báo nên nhiều người còn chưa biết hoặc đã quên ông từng là một nhà thơ.
Trong bài thơ Biển của ông có đoạn: "Biển như vầng trán rộng/ Thương đời triệu nếp nhăn/ Người còn trong hữu hạn/ Cứ nghĩ ngoài xa xăm/…Biển muôn đời dào dạt/ Mà tĩnh lặng khôn cùng/ Ra tới ngoài vô hạn/ Biển chảy vào không trung"
