Thực lý của tình yêu
Cuốn Nhật ký của Đặng Thùy Trâm trở nên nổi tiếng trong và ngoài nước và trở thành một biểu tượng đẹp đẽ và bi tráng của tâm hồn, lòng yêu nước, đức hy sinh của người con gái trí thức đã rời Hà Nội dấn thân vào cuộc chiến vì lòng yêu nước và còn cả vì người yêu cô đang ở trong chiến trường miền Nam. Không ai hiểu vì sao một người con gái có tâm hồn tuyệt đẹp, sâu sắc, mạnh mẽ và cương nghị như Thùy Trâm lại không thể hạnh phúc với tình yêu mà cô lựa chọn. Càng không thể hiểu vì lý do gì khi cô sẵn sàng đi về cuộc chiến nhiều hy sinh, ngay cả tính mạng của bản thân ngoài cống hiến cho Tổ quốc, còn có một lẽ nữa là cô đến với tình yêu, để sẻ chia sự hiểm nguy gian khổ nơi trận mạc với người mình yêu.
Chân dung kẻ sĩ đàng trong
Ngước nhìn trời xin một chút mông lung
Cúi nhìn đất xin bình yên tĩnh lặng.(Khương Thế Hưng)
Trong bức thư của Trung tướng Lê Hai gửi chị Khương Băng Kính sau khi nhận được bộ sưu tập về Khương Thế Hưng mà chị Khương Băng Kính gửi ông. Trung tướng Lê Hai đã viết về Khương Thế Hưng: Cả cuộc đời Khương Thế Hưng là cuộc đời một chiến sỹ, một lối sống mình vì mọi người, chân thật hết lòng. Khi anh sống và chiến đấu quyết liệt ở chiến trường, anh là một chiến sỹ có văn hóa, đa tài, một chỉ huy thiện chiến. Chất kẻ sĩ đàng trong của anh biểu hiện rõ nét nhất ở hai tình huống trong cuộc đời anh, đó là: Là một chiến sỹ anh hùng trong chiến đấu nhưng đã không làm thủ tục kê khai thành tích để được phong anh hùng. Bị thương nhiều lần, một số lần rất nặng, nhưng không hề giám định thương tật để được hưởng chế độ thương binh. Là tác giả của điệu múa Chàm Rông nổi tiếng nhưng anh không hề bận tâm khi có người khác mạo nhận là tác giả. Sự khiêm nhường, quên mình rất tự nhiên hồn nhiên, vô tư của anh thực ra là biểu hiện của một quan niệm sống, một lối sống cao đẹp với lý trí sâu sắc của một “Kẻ sĩ đàng trong”.
Trong những trang nhật ký ghi chép còn lại của Khương Thế Hưng những ngày anh hãy còn là một người lính trẻ nơi chiến trường. Những suy nghĩ, trăn trở về mình, về đồng đội về cuộc chiến luôn giày vò thường trực trong trái tim nhiều suy tư của anh. Một nỗi suy tư định phận của người lính vừa chiến đấu, vừa cầm bút: “Mình là cái thằng Hưng này, bắt đầu đi từ đâu, bằng con đường của dòng sông nào chảy về biển cả của sự nghiệp Nhân dân, sự nghiệp Giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, Thống nhất Đất nước?
Có phải là từ ngã ba sông, lưu lượng đổ cuồn cuộn trên dãy Trường Sơn cao vút của một chuyến đi? Không phải đâu. Từ giã dòng sông đưa mình về một nẻo trường Đại học- 6 năm trước đây - mình chưa hiểu hết nhiệm vụ của một chiến sỹ Giải phóng quân với cái nghĩa trọn vẹn của nó như bây giờ…
…May mắn biết bao cuộc sống đã dành cho mình vinh dự ưu tiên là được sống 6 năm qua trong cuộc chiến tranh khói lửa. Ôi cuộc sống kỳ diệu mà ở đó chủ nghĩa nhân đạo và sự tàn bạo, sự dũng cảm thông minh và sự hèn nhát đê tiện, sự chịu đựng mất mát đau thương cao nhất và sự trần truồng kinh tởm của hành động Hủy diệt - cái Thiện và cái Ác, những mâu thuẫn cực kỳ to lớn, rạch ròi như hai màu Trắng Đen, như Ánh sáng và bóng đêm của hai cuộc chiến tranh chính nghĩa và phi chính nghĩa của Nhân dân ta một bên và bên kia.
Có lẽ 20 năm sau khi đất nước yên hàn, lòng mình vẫn nhói lên khi nghĩ về những con người hôm nay, trong cuộc chiến đấu khốc liệt này. Họ hy sinh bản thân mình, vô tư đến trong trắng vì căm thù trở thành niềm say mê, như một khát vọng muốn đánh gục kẻ thù, ngay trước mắt họ, hả hê. Vô tư như ý thức mà chính ra ý thức họ rõ ràng đến trong suốt như pha lê, như không còn ý thức. Nó trở thành cái ĐẸP ngàn năm và cũng là nỗi ĐAU ngàn năm ta nhớ để phấn đấu không còn bao giờ trở lại những mất mát quá lớn lao này. (Khương Thế Hưng - 1970).
Thực lý của tình yêu
Những người đi chiến đấu/ Không muốn nặng thêm khẩu súng/ Một mối tình quá xa? Và nhất là/ Nỗi ân hận quá nhiều/ Bắt một người yêu/ Phải đợi…
Nhà thơ Khương Hữu Dụng, cha của Khương Thế Hưng, đã thay con trai viết nên những câu thơ này để lý giải sự im lặng khó hiểu, hay sự tan vỡ lạ lùng trong tình yêu của anh và nữ bác sỹ Đặng Thùy Trâm. Đặng Thùy Trâm đã hy sinh, mang theo nỗi đau im lặng của tình yêu. Khương Thế Hưng còn sống trở về, nhưng tình yêu với người nữ bác sỹ trẻ mãi là một ẩn số bí mật trong tâm hồn sâu kín của anh. Giờ đây cả anh cũng đã trở về bên kia thế giới, mang theo bí mật mối tình buồn của hai người. Thật may, những trang nhật ký chiến trường của anh vẫn còn và với sự dày công của gia đình, bạn đọc lần đầu tiên được chạm vào những ẩn khuất sâu thẳm ấy trong cuốn sách: Hai người lính con của già Khương.
Chúng tôi xin trích từ nhật ký của Khương Thế Hưng những dòng viết về Đặng Thùy Trâm: “Làm sao quên được Thùy Trâm nhỉ! Khi Thùy còn sống, mình tránh nói yêu Thùy. Nhưng mình rất thương và trọng Thùy. Và hẹn sẽ chờ. Để mãi mãi là người thân yêu nhất của nhau. Chiến tranh đã cướp đi lời hẹn ấy… Có phải tại mình không biết thủy chung? Thùy ơi, sẽ không có người con gái nào giống như Thùy đâu. Trong cuộc sống. Và trong trái tim mình. Nằm yên nghỉ nơi mảnh đất vùng giáp ranh Đức Phổ. Thùy có nghe lời nói im lặng nhưng rất vang xa của trái tim mình không? Anh yêu Thùy, Vâng, anh yêu Thùy. Những năm chiến đấu, ta còn xa nhau một khoảng cách tâm hồn, khoảng cách cuộc sống. Thùy mơ mộng nhiều quá - như ngày còn là học sinh ấy. Thùy yêu người giải phóng quân nhưng Thuỳ chưa hiểu hết cuộc sống và niềm say mê nhất của họ: niềm say mê diệt Mỹ để trả thù cho đồng bào và đồng đội. Vậy là Thuỳ chưa thật yêu họ, phải không?
Ba năm sau ngày gặp nhau lại, Thùy viết: “Có lẽ anh đúng hơn em, vì đến bây giờ cuộc chiến tranh ngày càng khốc liệt, em mới thực sự hiểu anh. Em tin anh hơn tin bản thân mình. Bọn mình chờ ngày thống nhất sẽ nói với nhau điều đáng nói phải không anh”. Thùy không còn giận và trách anh nữa. Thùy đã trở thành người chiến sỹ chân chính, người đồng đội và người đồng chí của anh. Giặc Mỹ run sợ người chiến sỹ chân chính ấy. Nó giết đi niềm vui hạnh phúc của anh. Từ trong cái chết lại tái tạo và sinh thành nỗi đau tình yêu to lớn. Nỗi đau to lớn là nỗi đau cắn răng chịu đựng một mình.
Bốn năm nay anh im lặng. Và giờ anh mới nói với em buổi hôm nay, lúc anh đặt chân lên con đường Trường Sơn, con đường dẫn anh về gặp Thùy, gặp anh Xương, gặp lại cuộc sống THỰC của anh. Là hôm qua, và là hôm nay. Là con đường năm xưa đã từng đưa em về gặp anh. Để giận hờn. Để xa cách. Để đau khổ. Để lớn lên trong chiến đấu. Để tình yêu nhân lên… Khi em còn sống, ta im lặng. Im lặng thực sự. Khi em chết rồi, ta mới thực sự:“Yêu Em”. Thùy ơi! Mình không bắt chước một ai cả đâu. Có chi xấu hổ hơn đi bắt chước người nào, cả về một tình yêu. Có điều, Thùy biết không- Lẽ ra sự hy sinh của Thùy là thuộc phần mình- phần người lính. Khi mình cầm khẩu súng. Tình yêu là khẩu súng mình cầm. Tình yêu ở đằng trước, nơi nòng súng rực đỏ. Nơi mình lao tới. Còn phía sau mình - là Hạnh phúc mình cần bảo vệ. Là em - Là hạnh phúc của đời em, mà sẽ không có phần anh.
Ai nghĩ đến viên đạn thù vòng qua người anh nhằm thẳng vào trái tim em! Anh không bảo vệ nổi một hạnh phúc của người thân yêu. Vậy mà cũng đòi làm người lính! Thùy có biết vì sao những năm dài anh day dứt - những năm dài suy tư. Trên đất Bắc, nơi ngày xưa em sống qua tuổi thơ tươi đẹp ấy mà lòng anh như muối xát. Một tiếng gọi: “Miền
Anh đã làm tròn nghĩa vụ người lính đâu mà anh đòi hưởng hạnh phúc cần được bảo vệ hở em! Đành vậy mà mái tóc anh cứ bạc dần vì suy tư. Nhưng chỉ cần trao lại khẩu súng cho anh - anh sẽ trở thành người chiến sỹ xung kích. Anh lao về phía trước lấy ngực anh che chở mảnh đất em nằm. Cho em đừng tủi buồn vì anh không hề nói với em hai tiếng “Yêu em”.
Đã đành em không phải là Tất cả
Nhưng có em mới thành là Tất cả.
Anh gọi miền
Em yêu người lính mà em không hiểu ra trái tim người lính. Đêm ấy, phút giây còn lại, hai đứa ngồi trên tảng đá bên suối. Em nhìn vào mắt anh và khe khẽ lắc đầu. Còn anh thì im lặng. Và bọn mình chia tay. Em ở lại với nỗi đau. Và anh ra đi với tiếng hát khơi xa trên biển sóng chập chùng. Bây giờ thì anh nói em hay: Khi khối bộc phá 10 cân nổ bay tung thành tiểu khu Quảng Ngãi hất anh bay lên. Trước khi rơi xuống đất trào máu ngất lịm đi, anh tưởng như mình là tiếng hát em đang lượn trên sóng biển. Đó là tình yêu của người lính em à! Vậy mà em không hiểu sao? Em bảo anh giống Ruồi Trâu quá! Im lặng và khắc nghiệt với Jéma. Nhưng Ruồi Trâu còn có bức thư nhỏ gửi lại Jim trước lúc chết, Còn anh thì im lặng, mãi mãi.
Không! Anh không phải Ruồi Trâu đâu em à. Anh không hề im lặng. Anh nói đấy mà. Nói rất to. Trước mặt kẻ thù. Cả khối nổ bộc phá 10 cân. Là tiếng nói của tình yêu - Vậy mà đến lúc chết đi, em vẫn còn nghĩ anh không nghĩ đến em! Trời, nỗi đau của em lại là lỗi lầm của người lính như anh sao! Tóc anh bạc rồi đây, có đủ để bù đắp nỗi đau của em chưa?
Anh không lỗi lầm đâu Thuỳ ơi! Nhưng anh đau xót. Vì anh bất lực không làm em hiểu ra anh. Yêu và không yêu là sự đối lập của Tồn tại. Nhưng phải là Tồn tại nào để làm tiêu chuẩn của định nghĩa yêu hoặc không yêu… Em chết đi. Biến thành ngọn gió lượn trên đầu anh. Trên đời anh. Thành tiếng gọi đằng trước để anh đi tới. Âm thanh là không khí đối lưu? Nó dồn đi nơi nào đó, nơi kia thành chân không? Có phải vậy không mà hôm nay lòng anh trống rỗng…
Bao giờ anh cũng cần phải sống xứng đáng hơn. Bao giờ cũng phải phủ định mình để khẳng định em. Sống như vậy cực nhọc lắm Thuỳ ơi! Anh đuối sức và anh đau khổ. Sự tồn tại của ý thức, có là tồn tại không? Sự đau khổ ấy! Chắc là không. Vậy mà có, nơi anh...”.
(Trích cuốn Hai người lính con của già Khương - NXB Quân đội nhân dân).
