Thanh Hải: Đời và thơ

Thứ Năm, 20/05/2010, 10:39
Như là có sự linh ứng, trước thềm mùa xuân này, Chi hội Nhà văn Việt Nam ở Huế vừa bàn kế hoạch kỷ niệm 80 năm ngày sinh và 30 năm ngày mất nhà thơ Thanh Hải (TH) nhân ngày giỗ của nhà thơ thì đoàn cán bộ thuộc Trung tâm Lưu trữ quốc gia vào Huế, nhờ tôi dẫn đến thăm nhà chị Thanh Tâm (vợ TH) bên con đường dẫn lên đàn Nam Giao.

Đây là căn nhà chị Thanh Tâm mới xây trên khu đất hoang vừa được quy hoạch và rất gần với con đường mang tên TH, cũng gần với khu nghĩa trang Phan Bội Châu, nơi mộ TH được đặt cạnh mộ các danh nhân như Nguyễn Chí Diễu, Hải Triều…

Trước đây, gia đình TH ở đường Trần Phú, chị Thanh Tâm đã có lúc muốn giữ căn nhà này như là một nơi lưu niệm nhà thơ, nhưng cuộc sống quá khó khăn, một nách ba con nhỏ, chị đành phải tìm nơi ở mới khiêm tốn hơn. Vả lại, nay chị sống một mình, nhà cửa rộng rãi mà làm chi. Tuy vậy, căn nhà trông rất sáng sủa, đủ chỗ cho chị treo nhiều bức ảnh quý của TH, trong đó có ảnh Bác Hồ ôm hôn TH vừa được phóng to treo phía trước bàn thờ.

Ba mươi năm qua, những con đường rợp bóng cây của "Huế đẹp và thơ" với ngôi nhà 26 Lê Lợi bên sông Hương vắng bóng TH, nhưng mỗi sáng, khi nhạc hiệu Đài Phát thanh cất lên với bài "Mùa xuân nho nhỏ", mọi người lại nhớ đến TH. Và trên những tờ báo Xuân, chúng ta thường được "gặp" TH với nụ cười rạng rỡ khi tham gia Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc, được các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đón tiếp thân tình và trọng thể, được sống gần gũi giây lát trong vòng tay ôm của Bác Hồ - vị lãnh tụ kính yêu mà hơn nửa thế kỷ trước, giữa cuộc chiến đấu gian khổ bên dòng Ô Lâu, TH chỉ có thể "Giở xem ảnh Bác cất thầm bấy lâu" và thốt lên "Ôm hôn ảnh Bác mà ngờ Bác hôn". ("Cháu nhớ Bác Hồ" -1956)…

Thú thật là tôi mới biết đến TH từ sau chuyến ra thăm miền Bắc ấy với hai câu thơ nổi tiếng: "Xa nhau chỉ một mái chèo/ Mà đi trăm núi vạn đèo đến đây!". Quả là từ chiến trường Trị Thiên, chỉ cần "một mái chèo" qua sông Hiền Lương giới tuyến là đến được Vĩnh Linh - Quảng Bình của miền Bắc, nhưng TH cùng Đoàn Đại biểu miền Nam đã phải đi vòng qua Mạc Tư Khoa - Bắc Kinh mới được đặt chân lên nửa phía Bắc của Tổ quốc mình. Thực ra, từ trong kháng chiến chống Pháp, TH đã là một người lính trên mặt văn nghệ ở chiến trường "Bình Trị Thiên khói lửa".

Khi đó, TH mới là chàng trai 22 tuổi. Vùng Phong Quảng đau thương quê hương anh. Vậy là từ thời chống Pháp cho tới suốt những năm chống Mỹ, TH với ý chí kiên trung của người cộng sản, vẫn luôn có mặt tại nơi ác liệt và gian khổ nhất. Năm 1962, NXB Văn học ấn hành tập “Những đồng chí trung kiên”, tác phẩm đầu tay của TH:

"Hôm qua chúng giết anh/ Xác phơi đầu ngõ xóm/ Khi lũ chúng quay đi/ Mắt trừng còn dọa dẫm/ - Thằng này là cộng sản/ Không đứa nào được chôn/… Mộ anh trên đồi cao/ Hoa hồng nở và nở/ Hương thơm bay và bay/ Lũ chúng nó qua/ Mắt diều không dám ngó…" (“Mồ anh hoa nở”- 1956).

PGS.TS Hồ Thế Hà, cán bộ giảng dạy Trường Đại học Khoa học Huế, khi nhắc đến bài thơ này đã viết: "TH với “Mồ anh hoa nở” đã khái quát tình đồng chí, đồng bào, tình quân dân cá nước một cách bản chất nhất, thông qua cái chết của người chiến sĩ cách mạng. Mặc cho kẻ thù dọa dẫm, trên mộ người cộng sản giữa lòng địch vẫn lộng gió bốn phương và đỏ tươi hoa cách mạng". ("Sức mạnh tinh thần từ những vần thơ", trích từ sách "Tìm trong trang viết", NXB Thuận Hoá, 1998). Phải có một cuộc đời của "người trong cuộc" sống chết cùng với nhân dân như TH, mới có thể viết được những dòng thơ như thế… Và chỉ với một tập thơ mỏng ấy, năm 1965, TH đã được tặng giải thưởng Văn học Nguyễn Đình Chiểu. Tập thơ mỏng nhưng có sức nặng vì thấm đẫm máu và nước mắt của "những đồng chí trung kiên" - trong đó có bản thân nhà thơ.

So với các nhà thơ cùng thời, TH viết ít hơn. Sống giữa vòng vây quân thù ở một chiến trường vào loại ác liệt nhất, gian khổ nhất, đến giấy bút và cả muối ăn đều thiếu, không dễ có được lúc bình yên thả tâm hồn trên những trang thơ. TH phải làm tròn nghĩa vụ người lính trước khi cầm bút làm thơ. "Con đi mấy năm trời/ Xanh lá rừng da mặt/ Đường đêm thâm mí mắt/ Thương con mẹ ngậm ngùi"… (“Con ơi con cứ đi” - 1957). Đến ngày đất nước thống nhất, được sống giữa đất Huế thanh bình thì TH lại mang gánh nặng người cán bộ lãnh đạo văn nghệ.

TH từng là Ủy viên Thường vụ Ủy ban Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Ủy viên Đảng Đoàn, Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên. Cho dù lắm chức tước như thế, nhưng mấy năm sống và làm việc với anh, tôi chưa bao giờ thấy TH ra mặt và lên giọng của người có chức quyền.

Ngày ngày, từ căn nhà bên đường Trần Phú gần cầu Kho Rèn, nhà thơ nổi tiếng với thân hình thâm thấp, gầy mảnh, gò lưng đạp xe đến cơ quan như một cán bộ bình thường. Chỉ khác, khi anh bước lên mấy bậc cầu thang, thường phải nghỉ giây lát, lấy khăn lau mồ hôi rịn đẫm chân tóc, rồi mới có thể chào hỏi chúng tôi với nụ cười hiền hậu thường trực trên khuôn mặt tai tái - cái màu da ấy là hậu quả của những cơn sốt rét rừng liên miên, thủ phạm gây nên căn bệnh hiểm nghèo xơ gan cổ trướng đã khiến anh phải bỏ dở nhiều dự định sáng tạo khi chỉ mới 50 tuổi, bỏ lại người vợ trẻ với ba người con trai còn nhỏ dại giữa lúc đất nước khó khăn thiếu thốn đủ bề.--PageBreak--

Tròn 30 năm đã qua từ ngày ấy. Mấy cô gái trẻ ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia rất ngạc nhiên trước vẻ tươi trẻ của chị Thanh Tâm, dù nay chị đã trên sáu mươi tuổi, dù 30 năm qua chị đã phải gồng mình chống đỡ mọi thử thách để nuôi dạy ba cậu con trai khôn lớn. Trong một cuốn sổ nhỏ, tôi đã đọc được những dòng hồi ức chị Thanh Tâm viết trong dịp kỷ niệm 10 năm TH ra đi, những dòng tâm sự để vơi bớt nỗi cô quạnh của mình:

"… Mỗi lúc gặp khó khăn Tâm lại tự động viên mình còn có bao nhiêu anh em bạn bè mình ngày đêm đang ở chiến trường đói cơm lạt muối, nào là bom đạn, nào là sốt rét… Điều đó đã tăng thêm sức mạnh cho chính mình để vượt các khó khăn hiện tại, nỗi vất vả cô đơn lúc vắng chồng… Việc ốm đau của anh Hải không phải ngày một ngày hai, mà cả quá trình ở chiến trường, anh Hải đã nhiều lần bị sốt rét, cộng thêm cái thiếu thốn làm cho cơ thể suy kiệt. Có lần anh Hải bị sốt ác tính, phải đi nằm viện quân y hàng tháng, người gầy xanh, gan lách to… Sau ngày giải phóng quê hương, bệnh anh lại tái phát năm 1977… Về sau, bệnh nặng, hàng ngày Tâm 3-4 lần trèo lên gác tư Bệnh viện Huế, rồi về chợ búa, bếp núc, lo cho chồng bát cháo miếng canh, lo cho con ăn học ở nhà. Việc cơ quan Tâm cũng bề bộn, có lúc một mình khám cả năm, sáu chục bệnh nhân. Vừa là người vợ, vừa là người thầy thuốc, Tâm luôn nghĩ mình cần phải có sức khoẻ và nghị lực vuông tròn, trên nét mặt bao giờ cũng vui vẻ, tự tin, lúc nào đến bệnh viện cũng có hoa cho anh Hải… Nhưng là người thầy thuốc, Tâm biết được bệnh tình của chồng mình như là một bản án tử hình "treo". Nhiều lúc đau khổ và lo âu tràn ngập, tâm hồn cứ ám ảnh những câu hỏi "cái gì sẽ đến với mình?", "một người phụ nữ goá bụa cô quạnh, vô vọng, không tiền, không chồng, cõng 3 con nhỏ, rồi mình sẽ ra sao? Con cái thế nào?...". Nghĩ thế, con người mình trở nên yếu đuối, nước mắt cứ thế tuôn trào không ngăn nổi và cứ chảy mãi đến nỗi mắc bệnh khô mắt và mắt mờ sớm hơn so với độ tuổi…".

Biết ơn người vợ trẻ đã chia sẻ ngọt bùi cay đắng suốt cuộc đời mình và sẽ phải gánh chịu bao nỗi xót xa trước cảnh "chia tay" khắc nghiệt không thể nào tránh được, trong những ngày cuối đời, cùng với "Mùa xuân nhỏ nhỏ", TH đã viết tặng riêng chị Thanh Tâm bài "Không đề" chưa hề được công bố, với những dòng thơ chân tình mà xúc động khôn cùng:

"…Khi anh nằm xuống đó/ Giữa bát cơm em đơm/ Giữa chén nước em múc/ Giữa bộn bề bếp núc/ Em nâng cho anh nằm/ Giữa những cơn khóc thầm/ Em quạt cho anh ngủ/ Cánh tay như muốn chia/ Một nửa ấp con nhỏ/ Một nửa để bên anh/ Đường vào viện không xanh/ Đường vào viện mưa nghiêng/ Em đi hoài ướt tóc/ Thôi đi những cơn lốc/ Thôi đi những cơn mưa/ Tắt đi cơn gió mùa/ Kẻo đường xa em lạnh/ Kẻo đường xa em ho…".

Thời gian đã xoa dịu nỗi buồn đau và chị Thanh Tâm có niềm vui, có quyền tự hào nữa, đã dành trọn vẹn cuộc đời mình cho TH. Trong ba mươi năm qua, dù cuộc sống muôn vàn khó khăn, vào những năm chẵn 5 năm, 10 năm , 15 năm…, với sự giúp đỡ của bạn bè, của các cơ quan hữu trách, chị đều tổ chức những hoạt động kỷ niệm ngày TH qua đời. Còn trong ngày giỗ TH mấy hôm trước, chị đã bàn với chúng tôi năm nay sẽ làm lại tuyển tập TH đàng hoàng hơn, nhân kỷ niệm 80 năm ngày sinh và 30 năm ngày anh đi xa.

Hôm nay, chị vừa trải những tư liệu - di sản tinh thần của TH để lại - vừa ríu rít "thanh minh" với các nhân viên lưu trữ là chị chưa kịp sắp xếp lại cho có hệ thống và còn nhiều thứ nữa chưa soạn ra… Một cô gái lấy từ trong chiếc cặp ba dây cũ kỹ thời bao cấp mấy trang giấy đánh máy nâu xỉn, vừa nhẩm đọc "Kính gửi Thường vụ Tỉnh uỷ…" thì chị Thanh Tâm đã huơ tay, nói vội: "Chớ chớ… Cái đó để tôi xem lại đã…". Chị e ngại đó là công văn "mật" không nên công bố. Hoá ra đó là hai bức thư của TH gửi Tỉnh uỷ xin được rút lui khỏi mọi chức vụ, do sức khoẻ sút kém.

Thế đó! Người không tham quyền cố vị nhưng là một cán bộ luôn có ý thức tổ chức kỷ luật, TH cứ phải liên tục ngồi ghế lãnh đạo - một môi trường hẳn là không thuận lợi cho người sáng tạo. Trong điều kiện ấy, với mầm bệnh hiểm nghèo đe dọa, TH đã phải nỗ lực phi thường mới để lại được những tác phẩm mà chúng ta có hôm nay. Ngoài tập "Những đồng chí trung kiên", TH còn có các tập thơ "Huế mùa xuân" (1970), "Dấu võng Trường Sơn" (1977), "Mưa xuân đất này" (1982). Trong "Tuyển tập Thanh Hải" (NXB Văn học, 1994), chúng ta biết thêm hai tác phẩm của anh được công bố lần đầu: Trường ca "Hành khúc người ở lại" và kịch thơ "Bình minh thành Huế". Những tác phẩm của TH đã được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (đợt 1, năm 2001).

Thật không may là TH đã qua đời quá sớm. Nhưng với một nhà thơ, có thể nói TH đã "trường thọ" với những tác phẩm sống mãi với thời gian như "Mồ anh hoa nở", "Mùa xuân nho nhỏ"… Đó là niềm hạnh phúc không phải tác giả nào cũng được hưởng. Và cũng thật hạnh phúc khi anh có người bạn đời là chị Thanh Tâm, vẫn luôn bên anh như mấy câu thơ chị viết trong ngày giỗ TH hơn mười năm trước: "…Một mùa xuân nhỏ gia đình chờ đợi/ Một giọng ca Nam Bình em xin trao gởi/ Với tất cả tình riêng, em luôn đợi anh về…"

Nguyễn Khắc Phê
.
.
.