Phu nhân của thi sĩ Huy Cận và những bức tình thơ

Thứ Ba, 20/10/2009, 08:52
Dễ chừng đến 4 năm rồi, tôi mới gặp lại bà Trần Lệ Thu, vợ của cố thi sỹ Huy Cận trong căn nhà riêng của ông bà tại 24 Điện Biên Phủ. Vẫn dáng hình còm cõi, gương mặt nghiêm nghị, luôn phảng phất nỗi u buồn và nét cười lành hiền như đất... Kể từ lần gặp trước, sau sự ra đi của nhà thơ Huy Cận, chỉ 4 năm thôi mà bây giờ tôi không còn nhận ra bà nữa khi bà sụm yếu hơn xưa quá nhiều.

Bây giờ tóc bà đã trắng xoá, lưng của bà đã còng rạp xuống đất, đi lại rất khó khăn, chỉ có nỗi e ngại, những ẩn ức trong nỗi nhân tình thế thái là vẫn vậy, day dứt trong tâm trạng của bà.

1. Khó khăn lắm bà mới cho tôi một cơ hội đến thăm bà ở 24 Điện Biên Phủ. Căn nhà quá nổi tiếng bởi nơi đó có hai danh nhân thi sỹ của Việt Nam Xuân Diệu và Huy Cận cùng sống chung trong tình bạn thân thắm thiết yêu thương. Cho dù giờ đây, cả hai danh nhân thi sỹ đều đã đi xa làm người thiên cổ, nhưng những hệ lụy trần gian thì vẫn còn đó.

Không phải bà Huy Cận khó tính, không mở lòng với khách, chỉ là vì nhà bà không có lối đi, và xung quanh chuyện không có lối đi là biết bao nhiêu nỗi phiền toái, đau đớn… mà tính bà thì hiền như đất, một mực nhẫn nhịn đã quen rồi, nên ai đến cũng chỉ dám mời ra quán cà phê trước phố tiếp chuyện mà không dám lên nhà. Hôm nay, nhờ một cơ duyên tôi may mắn lọt vào căn gác của bà Huy Cận trong một nỗi thấp thỏm... vì ngại để chụp được bao nhiêu bức ảnh đắt giá nơi căn phòng mà ngày trước thi sỹ Xuân Diệu và vợ chồng nhà thơ Huy Cận đã ở, sinh con đẻ cái và làm nên những tác phẩm văn thơ bất hủ.

Căn biệt thự 24 Điện Biên Phủ bước sang năm 2009 này đã tròn 100 năm tuổi. Mọi thứ ở đây đã cũ nát, xuống cấp. Trong phòng ngủ và phòng làm việc của cố nhà thơ Huy Cận, những mảng trần đã tróc tráy, lở loác và đôi chỗ đã rơi sập xuống nền nhà những mảng vữa lớn. Sỡ dĩ, ngôi nhà vẫn nguyên trạng như 100 năm về trước là bởi cho đến thời điểm này, ngôi nhà vẫn chưa được Nhà nước cấp sổ đỏ cho gia đình.

Tôi phục bà Huy Cận khi từ ngày chồng mất, trong một nỗi đau đớn sâu sắc khi mất đi người chồng yêu thương, người tình tri âm tri kỷ, bà chôn chặt nỗi sầu, gần như khép mình lại với thế giới bên ngoài để đóng cửa giam mình trong phòng văn của nhà thơ Huy Cận và cật lực làm việc. Việc mỗi một ngày trôi qua, bà cần mẫn, còm cõi kiên trì bám trụ nơi này, trong căn phòng chất ngất lộn xộn, cũ nát những sách vở và bản thảo của chồng để hằng ngày chạy đua với quỹ thời gian sống còn lại của mình mà nhặt nhạnh di cảo của chồng và tiếp tục hoàn thành tập 3 cuốn "Hồi ký song đôi" của ông bà thật đáng cho tất cả chúng ta nể phục.        

Bà làm việc quên sức lực của mình đã đến ngày tàn kiệt, quên phố xá ngoài kia rộn rã tiếng người, quên những cuộc vui mà lẽ ra ở tuổi này bà có quyền được thụ hưởng. Gặp bà tôi có cảm giác như bà đang dồn hết sức lực thu vén và hoàn thành nốt những công việc cuối cùng của một người vợ tận tâm với chồng ngay cả khi chồng mình không còn nữa. Bà muốn hoàn thành nốt những nhiệm vụ cuối, để đến một ngày thanh thản nào đó, bà sẽ đi gặp ông, như đã đăng ký với định mệnh trước rồi rằng ở thế giới bên kia, bà lại là vợ hiền của ông thêm một lần nữa.

Tôi không sao hình dung nổi lòng kiên trì, sức chịu đựng và trên hết tất cả là một tình yêu vô bờ với cố thi sỹ Huy Cận, người chồng đã mang vào cuộc đời bà nhiều yêu thương hạnh phúc nhưng cũng không ít nỗi cay đắng truân chuyên.

2.Trong cuộc hôn nhân với thi sỹ Huy Cận, bà từng bị người thân phía nhà chồng chê cười rằng bà lấy ông vì ham cái ghế bộ trưởng, vì muốn được ngồi ôtô. Bởi đến cả người trong cuộc cũng không rộng lòng để lý giải được tình yêu của một cô gái trẻ với nhà thơ Huy Cận khi giữa họ tuổi tác chênh nhau tới vài chục tuổi, và lúc đó nhà thơ Huy Cận đã một đời lận đận vợ con rồi. Có mấy ai biết rằng, đằng sau bóng dáng một đời im lặng của một giáo sư, nhà giáo Trần Lệ Thu là những dòng tiểu sử oanh liệt của một gia đình tư sản nức tiếng một thời.

Bà Trần Lệ Thu là con gái của ông Trần Văn Nhữ, là một nhà tư bản, chủ hãng dệt nổi tiếng Đại Tân ở số 40 Lê Lợi (bây giờ là 124 phố Bà Triệu Hà Nội) từ những năm trước 1945. Do buôn bán vải sợi phát đạt, ông Nhữ mở xưởng dệt và kéo bà con họ hàng ở quê ra làm việc, tạo công ăn việc làm cho dân làng.

Bà Thu còn nhớ như in, năm 1945, trận đói năm Ất Dậu, ông cụ trở về quê và mở kho lương thực phát chẩn cứu đói cho người dân ở quê hương ông là thôn Ô Mễ, xã Đông Du, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Năm đó, bà Lệ Thu mới lên 8 tuổi, chị gái bà lên 9 tuổi. Hai chị em thường được lái xe riêng của bố chở đi học trên chiếc ôtô riêng của gia đình. Bà còn nhớ đó là chiếc Citroen màu đen. Hai chị em bà đều được bố cho đi học ở ngôi trường Tây nổi tiếng thời đó: Trường Fe'lix Faure của Pháp. Hai chị em bà còn được bố cho đi học đàn dương cầm do vợ nhạc sỹ Thẩm Oánh dạy.

Mẹ bà là người Hà Nội gốc, là con gái của một gia đình thợ thêu đăng ten nổi tiếng ở làng La Khê - La Cả. Năm mẹ bà 19 tuổi đã cùng cha sang hội chợ Đấu Xảo ở Paris 1 tháng để triển lãm mặt hàng thêu đăng ten, vì cha bà nói tiếng Pháp rất thông thạo. Vậy là cả bố mẹ và ông bà ngoại của bà Lệ Thu là một trong số ít ỏi những người Việt đầu tiên mang sản phẩm vải dệt và đăng ten thêu để sang Pháp dự hội chợ.

Trong tuần lễ vàng đầu tiên năm 1946, bố mẹ bà Trần Lệ Thu đã ủng hộ cho Ủy ban Kháng chiến toàn bộ 400 cây vàng mà gia đình có. Tấm lòng yêu nước của ông đã được Ủy ban Kháng chiến hành chính ghi nhận và bầu ông làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính khu phố Liên Trì. Năm 1947, cả gia đình đi tản cư và mẹ bà đã sinh em trai út.

Bà Lệ Thu nhớ như in, bố bà thường bế em lên và ru con bằng những câu Kiều và một bài thơ mà bà còn thuộc lòng cho đến bây giờ: "Biển Sở Giang sóng cồn xanh biếc/ Khách nhàn du ai biết chăng ai/ Một non một nước một trời/ Kìa kìa trên bến mộ người cửu nguyên/ tuổi đôi tám suối vàng sao vội/ Khách xem bia khôn nỗi thở than/ Than hoa chưa nở đã tàn/ Ai run rủi cho ta tới đó/ để lòng này nhớ chỗ năm xưa/ Giấc chiêm bao khéo hững hờ/ Người xưa cảnh cũ bây giờ là đâu/ Trông mây nước hạt châu tầm tã/ Nỗi bi ai khôn tả nên lời".

Ngày đó và cho mãi sau này, bà Lệ Thu cứ ngỡ đó là một bài song thất lục bát của một tác giả Trung Quốc. Chỉ đến mấy chục năm sau, một lần tình cờ nghe chồng mình ngâm bài thơ này ru cháu ngoại ngủ, bà mới giật mình nhớ da diết bố của bà và bà hỏi lại chồng bài thơ của tác giả nào. Nhà thơ Huy Cận cho biết đó là bài "Tình hận đầu tiên" của đại thi hào Pháp Lamartine do Nguyễn Văn Thuộc dịch rất hay, có nhiều đoạn như là phóng tác.

Năm 1948, bố bà bị lính phòng Nhì bắt và đưa đi thủ tiêu, mất tích cho đến bây giờ. Năm 1961, một lần nữa, mẹ bà đã hiến tặng cho nhà nước quản lý toàn bộ tài sản gồm mấy ngôi nhà của gia đình. Gia đình bà từ một gia đình tư sản, chủ hãng dệt Đại Tân nức tiếng, trở thành tiểu thương nhỏ buôn bán lặt vặt qua ngày. Cũng chính vì hành động yêu nước của bố mẹ bà mà bà được kết hôn với nhà thơ Huy Cận - cán bộ cao cấp do Trung ương quản lý (lúc bấy giờ cán bộ cao cấp không được lấy vợ thành phần gia đình tư sản).--PageBreak--

3. Lúc còn sống bên nhau, thi sỹ Huy Cận đã viết và có lời đề tặng riêng cho người vợ trẻ yêu quý của mình khoảng 100 bài thơ tình. Tôi không biết chính xác trong các thi nhân Việt Nam có ai làm nhiều bài thơ tình lấy cảm hứng từ vợ và có lời đề tặng vợ đàng hoàng hơn thi sỹ Huy Cận. Chỉ biết rằng, đọc những bài thơ viết về vợ, viết riêng cho vợ, tôi mới hiểu hơn tình yêu, hay đúng hơn là mối ân tình sâu nặng thuỷ chung của bà Huy Cận dành cho ông và nhà thơ Huy Cận đã tri ân vợ mình bằng những bài thơ để lại.

Quà cưới nhà thơ Huy Cận tặng bà Lệ Thu theo như bà Thu kể không phải là nhẫn vàng, vòng bạc, hay quần áo lụa là mà đó là một chiếc hộp gỗ sơn mài vẽ hình hai con cua. Góc bên trái phía trên khắc dòng chữ: "Với em trọn đời". Tập thơ tặng em Trần Lệ Thu. Phía dưới góc bên phải là dòng chữ: "Em yêu, em đến mở trời xanh". Bên trong chiếc hộp sơn mài đựng quyển thơ nhà thơ Huy Cận chép lại đầy đủ 40 bài tặng bà Trần Lệ Thu được đánh số La mã từ I đến XL. Trong số đó chúng tôi xin trích cùng bạn đọc những bài thơ tình Huy Cận lấy cảm hứng từ vợ và viết dành riêng tặng vợ:  "Chở em thăm bạn cùng trường/ Hơi đêm thu mát dặm đường đôi ta/ Dùng dằng phút trở lại nhà/ Hồ quen phố cũ vòng ba bốn lần/ Yêu em quá hoá lần chần/ Gần bao nhiêu cũng chưa gần hết nhau" (tối 12/9/1964).

"Em hỡi! Lòng anh hết xót xa/ Khi nhìn quá khứ rối tình nhà/ Từ khi em đến hùn năm tháng/ Hạnh phúc thật hơn đau khổ qua/ Hạnh phúc thật như nét mặt em/ Sâu xa, giản dị tựa ngày, đêm/ Thật như trong trắng lòng em vậy/ Như nắng mai, nay rộn rã thêm". (15/9/1964). (Tặng vợ tôi).

"Mỗi mặt long lanh dưới ánh trời/ Khi ăn, khi nói, lại khi cười/ đến khi mắt nhắm không nhìn nữa/ Bóng tối nguyên sơ khép lại rồi/ Em hỡi mặt anh soi mặt em/ Qua gương số phận suốt ngày đêm/ Gió mưa gương ấy không mờ thuỷ/ Soi thấu lòng ta vạn nỗi niềm/ Ngày mắt em đau vẫn thấy anh/ Khi anh xuất huyết tưởng lìa cành/ Vẫn trông em rõ thương thương lắm/ Mỗi phút lòng ta lại tái sinh/ Gìn giữ mặt nhau đến trọn đời/ Khi ăn khi nói với khi cười/ Và khi khóc nữa càng yêu bội/ Thăm thẳm huyền vi cái mặt người"

(Em đến cùng anh trong ánh ngày). "Em đến cùng anh trong ánh ngày/ Nắng làm áo trắng, gió: tà bay/ Bước em bình dị, nhưng cây cỏ/ Quen dáng em rồi cũng giậy say/ Anh có tình em, anh có đời/ Có muôn dan díu với muôn người/ Cha sinh mẹ đẻ cho anh vốn/ Là sức yêu nồng dạ chẳng nguôi/ Có phải người yêu như trẻ thơ/ Chạy trong ánh sáng rộng không bờ/ Ú tim để được tìm nhau lại/ để ngạc nhiên rồi yêu ngẩn ngơ/ Tình ái cho đời sức tái sinh/ Ngày anh em tới ửng bình minh/ Cảm ơn thế giới này anh đến/ Có được trời xanh, có được tình".

(Anh đến em như anh về với biển). Anh đến em như anh về với biển/ Em của nghìn năm biển lớn của lòng anh/ Em dào dạt tình em vĩnh viễn/ Ngọn triều em cao vút quá mây xanh/ Về với biển như về quê ruột thịt/ Anh đến em: về quê quán tâm hồn/ Biển chung thuỷ một niềm tha thiết/ Em yêu anh như biển ngợp trào tuôn/ Em yêu mến! biển lòng anh mãi mãi/ Anh vào em, tắm sóng của đời em/ Lòng anh đó, trao em mãi mãi/ Ngập tràn em, anh biết nói chi thêm".

Giờ đây, mỗi lần nhớ người chồng yêu dấu, bà Lệ Thu lại lần giở tập thơ tình của nhà thơ Huy Cận viết dành tặng riêng cho bà để nhớ lại kỷ niệm thời yêu nhau, và về sống với nhau đời vợ chồng. Bà nói rằng, đọc kỹ lại từng câu, từng bài trong quyển thơ, bà chìm ngập trong niềm hạnh phúc vô biên có được một người tình, người yêu, người chồng thương yêu mình tuyệt vời đến nhường nào. Dẫu bà vẫn biết nhà thơ Huy Cận đa tình, yêu nhiều và có nhiều người tình nhưng "gió mưa gương ấy không mờ thuỷ" đã khẳng định vị trí của bà trong lòng ông là vĩnh viễn

N.B.
.
.
.