Nữ trinh sát đặc biệt
Noi gương cậu ruột, 13 tuổi, Thượng tá Nguyễn Thị Hải đã rời gia đình để tham gia lớp đào tạo nữ trinh sát đặc biệt chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong suốt những năm tháng chống Mỹ, cứu nước, chị và các đồng đội đã vượt qua nhiều gian khổ, hy sinh để bảo vệ thông tin liên lạc thông suốt. Sau những năm tháng chống Mỹ, cứu nước, chị tiếp tục làm công tác thông tin liên lạc ở Tổng cục 6 - Bộ Công an. Giờ đây, tuy đã nghỉ hưu nhưng dường như những ký ức về một thời hoa lửa nơi chiến trường đạn bom vẫn còn in đậm trong tâm thức chị.
Tôi đến thăm gia đình chị Hải vào một ngày đầu xuân. Căn nhà của chị vẫn còn ấm áp không khí mùa xuân với quất chín mọng vươn những cành lộc tốt tươi và những đóa mai vàng được người bạn chiến đấu thuở xưa gửi từ miền
Một đêm mùa đông năm 1966, chị đang ở nhà cùng bố mẹ thì Đại tá Nguyễn Ích Trung, người cậu ruột, đạp xe đến xin phép bố mẹ cho chị đi học một lớp đặc biệt để tham gia đánh Mỹ. Cả nhà chị vui lắm, mà chị là người vui sướng nhất. Mặc dù hồi đó, với thân hình bé nhỏ chỉ cao 1m38, nặng 34kg, chị chẳng biết đánh Mỹ sẽ phải làm những gì. Chị vẫn nhớ cái đêm ngồi sau xe đạp được cậu chở tới nơi tập trung lớp học, con đường ven sông Đuống quê chị thăm thẳm và ngằn ngặt gió, lạnh đến thấu xương, nhưng chị cảm thấy lòng ấm áp vì bên cạnh đã có cậu, một người cách mạng kiên trung và bản thân chị cũng sắp được noi gương cậu trở thành người chiến sĩ bảo vệ Tổ quốc.
Lớp nữ trinh sát đặc biệt của chị có 60 người đến từ nhiều vùng miền khác nhau. 60 người được chia ra thành 3 cụm nhỏ, mỗi cụm 20 người về ở tại nhà dân ở Hà Tây (cũ) để học tập, rèn luyện. Lớp 20 người lại được chia thành 4 nhóm nhỏ. Chị Hải kể rằng, hồi đó, nhóm chị ở tại nhà một gia đình ở thôn Triều Khúc. Trước khi đến tập trung, mỗi người được cô giáo chủ nhiệm là Đại tá Nguyễn Thị Lý, nguyên Trưởng ban Công tác nữ - Tổng cục 3, đặt một bí danh và không ai được phép tiết lộ cho bạn biết tên thật, quê quán của mình… Điều đặc biệt là cô Lý không đặt bí danh trùng với tên thật của bạn nào. Bởi vậy, có những lúc vì chưa quen với tên mới, nhiều bạn khi được gọi đến tên mình vẫn tỉnh bơ như đó là… tên người khác.
Hồi đó, lớp nữ trinh sát đặc biệt của chị Hải được học rất nhiều thứ: học văn hóa, học chính trị, chuyên môn nghiệp vụ Công an, học bơi, học trèo cây, bắn súng… Vì đây là lớp đào tạo cấp tốc nên lịch học rất gấp rút, vừa xong môn này đã phải học môn khác và dường như không có ngày nghỉ. Chị Hải kể, có một bạn cùng nhóm của chị học bơi mãi không qua, cả nhóm trải ni lông ra sàn dạy bạn tập bơi... trên cạn. Quả nhiên, sau đó người bạn của chị xuống nước và bơi được. Chưa hết, có một lần đi thực tập ở Lào Cai, chị em đang tắm dưới suối thì phát hiện có mấy thanh niên đang... nhìn trộm. Ngay tức khắc, chị em mặc luôn áo ướt nhảy lên bờ và giở mấy thế võ đã học được đánh cho một trận tơi bời.
Những cô bé lần đầu tiên xa nhà ở tuổi 13 rất háo hức với những điều mới lạ nhưng họ vẫn không tránh khỏi nỗi nhớ nhà da diết. Nhiều đêm nhớ nhà, nhớ mẹ, chị Hải và 4 người bạn ở cùng nhóm không ngủ được, nằm ôm nhau khóc rưng rức. Nhưng những tình cảm riêng tư ấy chỉ lóe lên trong chốc lát, ngay sau đó, các chị gác sang một bên quyết chí học tốt để sớm được ra chiến trường phục vụ cách mạng.
Chị Hải kể lại rằng, hồi đó, các chị được học những tác phẩm như "Bất khuất" của nhà văn Nguyễn Đức Thuận hay "Hòn đất" của nhà văn Anh Đức mà khâm phục những tài năng, những tấm gương, những nhân cách cách mạng dũng cảm, kiên trung. Gương sáng của chị Út Tịch, chị Sứ… là động lực để cho các chị, dù còn bé nhỏ, dù còn non nớt, dù chưa phải chịu đựng những gian khổ, hy sinh nhưng cũng luôn ý thức được rằng, có những tấm lòng kiên trung ấy, có sự hy sinh mất mát ấy, cách mạng mới thành công.
Ba năm sau khi kết thúc lớp học, những cô bé trong lớp đào tạo nữ trinh sát đặc biệt đã có những kiến thức cơ bản về nhiệm vụ cách mạng để bước vào một cuộc chiến mới, không phải chỉ bằng thực hành mà bằng hiện thực chiến tranh, có thể là đổ máu, có thể là hy sinh nhưng hồi đó, nhiều người đã tình nguyện ra chiến trường, trong đó có chị Hải. Chị đã làm đơn xin đi B, vào tuyến lửa.
Chị còn nhớ, ngày đầu, đơn của chị không được duyệt vì chị không đủ chiều cao. Chị Hải đã nằm khóc, giãy giụa đến nỗi cái giường cũ bị gãy mấy cái nan giường và đổ sụp xuống. Thấy cháu tha thiết quá, cậu Nguyễn Ích Trung đã xin với tổ chức cho chị được thực hiện nguyện vọng của mình. Ngày ra đi, chị mang trên lưng ba lô nặng gần 30kg, gần bằng sức vóc của chị lúc bấy giờ, cũng là mang theo những khát vọng của người nữ trinh sát đặc biệt.
Quãng đường vào
Chị Hải kể lại rằng, chị những tưởng khi trèo dốc Nguyễn Chí Thanh 1.100 bậc với 30kg trên vai hay những cơn sốt rét tím tái, ê ẩm thịt da đã ghê gớm lắm rồi, hóa ra, khi vào làm Báo vụ ở Khu 10, những gian khổ mới thực sự khủng khiếp. Nơi chị làm công tác thông tin báo vụ là những cánh rừng già lồ ô, bằng lăng quanh năm không nhìn thấy ánh mặt trời xuyên qua kẽ lá. Suốt sáu tháng ròng rã chẳng có lấy một hạt gạo, hạt muối, chỉ có rau rừng, sắn củ lót dạ thay cơm. Thời tiết vào mùa hanh khô, đến nước suối cũng không có mà uống. Điện đài liên lạc bí mật không thể ở một nơi nào lâu được, để tránh sự phát hiện của địch, cứ hai tháng các chị lại chuyển điện đài một lần, máy móc điện đài to vật vã lại được các chị khoác trên vai đi tìm căn cứ mới.
"Nhà ở" của các chị hồi đó là những tấm tăng căng giữa rừng, những căn hầm, nửa trên mặt đất, nửa dưới lòng đất, trời mưa thì hầm ngủ thành bể chứa nước. Đấy là chưa kể những hôm, địch phát hiện ra trạm thông tin và rải bom. Trong những năm tháng chiến tranh, sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc, chị Hải may mắn thoát khỏi thần chết, nhưng trong những giây phút cận kề ấy, chị được chứng kiến sự hy sinh của đồng đội mình. Không chỉ bom mìn địch đe dọa thường trực, ở chốn nước độc rừng thiêng, có người còn chết vì rắn độc, lũ quét.
Chị Hải vốn là một chiến sĩ báo vụ giỏi về chuyên môn nên chị thường được điều về tuyến trước. Nhiều khi điện mật truyền đến và gửi đi một lúc quá nhiều, chị và đồng đội phải thức đêm, căng mắt, căng tai để không bị một sai sót nào dù là nhỏ nhất, vì sự sai sót trong thông tin liên lạc có thể ảnh hưởng rất trầm trọng đến những quyết định sống còn, có khi cả vận mệnh của dân tộc.
Chính vì môi trường khắc nghiệt, muỗi rừng già nhiều, lại sống trong điều kiện thiếu thốn nên cô gái xứ Bắc đã bị nhiễm khuẩn, nhiều lần bị sốt rét, thân thể lúc thì bị phù nề, lúc lại xanh như tàu lá rừng, những mũi tiêm dày đặc cơ thể bị áp se đã để lại trên người chị những di chứng lồi, lõm cả một vùng thịt da. Trong cái rủi, có cái may, chính trong hoàn cảnh chị tưởng mình không qua khỏi những trận ốm nguy kịch, thì chị gặp người y sĩ đã chăm sóc tận tình với một cảm thông và lòng thương yêu chị sâu sắc. Hai anh chị bén duyên nhau và sau ngày chị ra viện trở lại với cuộc sống chiến đấu, hai người đã có một đám cưới đẹp mà giản dị, trong tình yêu mến của bao nhiêu đồng đội.
Giờ hỏi lại, Thượng tá Nguyễn Thị Hải vẫn nói, chiến trường nhiều gian khổ nhưng có những điều chị ghi nhớ suốt đời, chẳng hạn như cái Tết đầu tiên năm 1969 - 1970 ở chiến trường. Đó có lẽ cũng là cái Tết buồn nhất trong đời chị. 5 chiến sĩ trong đội của chị đi mua lương thực ăn Tết ở Campuchia trên đường về đã bị dính mìn Clêmo và hy sinh. Để có thức ăn Tết, vài chiến sĩ khác đã vào bản BùGum đổi muối lấy một chú chó về cải thiện, về buộc chó ở gốc cây thì chó sổng chạy vào rừng. Không thể đón Tết chỉ bằng sắn luộc nên các anh ở trong đội lại tiếp tục đi đổi muối lấy một chú lợn rừng. Tết năm đó, đội của chị có câu đối: "Chó chạy heo về mừng xuân đến/ Gạo vay, mì trộn đón xuân sang".
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, chị Hải trở về miền Bắc thân yêu, tiếp tục công việc của một người lính thông tin, chị trực ở tổng đài của Bộ Công an. Giờ đây, nói đến chị, nhiều người vẫn nói rằng, chị là cuốn từ điển sống về số điện thoại, vì chị có thể nhớ gần 500 số điện thoại mà không bị nhầm lẫn, cũng chẳng cần ghi chép.
Giờ đây, Thượng tá Nguyễn Thị Hải đã nghỉ hưu, nhưng chị luôn là một thành viên tích cực trong Ban liên lạc những người đi B. Chị tâm sự rằng, cả một thời thanh xuân chị đã kiên trung vì sứ mệnh của một nữ trinh sát đặc biệt và cả một đời, chị cống hiến cho công tác thông tin liên lạc. Những ngày tháng ấy, chị đã được học kiến thức văn hóa nhưng cũng là học cách làm người. Chị đã vinh dự được Nhà nước trao tặng Huân chương chống Mỹ hạng 2, Huân chương Chiến thắng hạng 2. Nhưng có lẽ, những cái được, cái mất của chiến tranh không thể nói bằng lời.
Chị luôn cảm ơn số phận đã cho chị may mắn được là người trở về sau chiến tranh, trở về để kể lại cho con cháu, cho những người hậu thế hiểu được phần nào những cống hiến hy sinh của cha anh trong chiến tranh. Hiểu để sống tốt hơn, xứng đáng hơn với những ngày hòa bình dựng xây đất nước
