Nữ thuyền trưởng đầu tiên của Việt Nam và khát vọng biển
"Tất cả những con sông rồi cũng chảy ra biển...", chị nghĩ số phận mình rồi cũng sẽ như những dòng sông, một ngày nào đó cũng trở về với biển. Tình yêu, sự thách thức và nỗi đam mê đối với chị đều dồn về nơi đó.
Anh hùng Nguyễn Thị Hồng đã quá quen thuộc với những ngư dân miền Tây. Chị là người đã chỉ huy con tàu TG 2032 vượt qua sóng dữ, hy sinh toàn bộ vốn liếng tài sản đi biển để cứu 34 ngư dân thoát chết trong cơn bão Linda kinh hoàng năm 1997. Trung tâm kỷ lục Vietbooks đã xác nhận chị là nữ thuyền trưởng đầu tiên của Việt
Tình yêu hay số phận
Chị yêu sông nước đến lạ lùng. Sinh ra ở Bến Tre nơi trước mặt là biển, sau lưng là sông. Khi gia đình chuyển nhà lên miệt cù lao Tân Long, Mỹ Tho, Tiền Giang, sau lưng là sông và trước mặt cũng là sông. Hồi đó mỗi buổi từ trường học về, cô bé Hồng lại quẳng cặp sách, chạy một mạch ra sông, nhảy ùm xuống nước bơi theo lũ con trai cùng xóm. Dáng người thon thả, khuôn mặt đầy đặn, nước da đen giòn, học hành không thua kém ai, lại là con của một chủ đóng tàu giàu có ở Mỹ Tho, cô bé Hồng vừa trổ mã tiểu thư cũng là lúc có nhiều chàng công tử Mỹ Tho ngấp nghé, cũng không phải Hồng không thèm để ý ai, nhưng có điều chị đã có một tình yêu khác - tình yêu với biển...
Năm 1982, Hồng tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Tiền Giang, kết thúc đời sinh viên văn khoa hay mơ mộng với tấm bằng loại ưu, được nhà trường giữ lại làm cán bộ phòng tổ chức, 6 tháng sau Hồng vào biên chế, cuộc sống viên chức cứ lặng lẽ trôi. Vài tháng sau, cuộc sống ấy trở thành quá nhàm chán đối với cô gái rất thích biển và ưa phiêu lưu này. Trước lời mời của người cô ruột, một chủ tàu buôn cá cơm miệt Kiên Giang, chị không hề đắn đo mà nhận lời liền, chấp nhận bỏ cái công việc của công chức ngày làm 8 tiếng để đi theo tiếng gọi của biển cả, của muối mặn và những cơn gió lồng lộng mà trong lành. Một cuộc sống lênh đênh với biển của người nữ thuyền trưởng đầu tiên bắt đầu và đơn giản như thế.
Hồng cũng chẳng nhớ khi ấy Hồng học lái tàu từ đâu và từ bao giờ, do cha là chủ đóng tàu nên không ít lần Hồng được theo những con tàu của cha lênh đênh sông nước và có lẽ từ đó mà cô biết lái tàu, mà đối với cô lái tàu ngoài biển khơi rất... đơn giản. Rồi sau khi được giao cầm vô lăng con tàu của người cô ruột, cứ nghề dạy nghề mà cô trở thành một thuyền trưởng cừ khôi. Thuyền trưởng, có lẽ cô sinh ra là để theo đuổi nghề này, chỉ có công việc ấy mới đủ làm cho cô thỏa mãn thú phiêu lưu và tình yêu với biển cả, với sóng cuộn mênh mông!
Con tàu TG 2032 chuyên buôn cá cơm do cô lái có tải trọng 60 - 70 tấn, 6 thủy thủ, một bà chủ buôn già và một chú chó Nhật có tên Becky. Một năm con tàu này lênh đênh trên biển hết... 10 tháng, và với người nữ thuyền trưởng này cũng vậy, chuyện gia đình, chồng con chị cứ gác hết qua một bên, hết năm này lại qua năm khác. Khi người ta được sống với tình yêu của mình thì còn mong gì hơn thế nữa, nhiều lần chị đã tự hỏi mình như vậy! Và, nhiều đêm người phụ nữ cô đơn đã tự hỏi rằng không biết khi cuộc đời mình gắn với biển, đấy là tình yêu hay là số phận?
Ký ức bão Linda
“Gần 20 năm cầm lái con tàu TG 2032 chưa bao giờ tôi gặp một cơn bão nào kinh hoàng đến thế, đáng sợ đến thế” - Chị bắt đầu ký ức bão Linda bằng một câu nói như vậy, gần 7 năm đã trôi qua mà nỗi ám ảnh của một cơn bão vẫn chưa tan biến trong trí nhớ người đàn bà của biển.
Mùng 1/11/1997, đài báo có áp thấp nhiệt đới, trời vẫn yên, biển vẫn lặng. Bão, bình thường thôi, mỗi năm những ngư dân vùng biển miền Tây phải đối phó không dưới 3 cơn bão, đã có áp thấp nghĩa là không sớm thì muộn bão sẽ về. Các tàu thuyền kéo lưới, nhổ neo chạy vào đất liền hay núp vào các hòn đảo nhỏ. Những người thuyền trưởng các tàu đánh cá và những ngư dân bao nhiêu năm trời vật lộn với gió bão, quen từng luồng lạch trên biển, nhiều người thông thạo đến mức chỉ cần nhìn mây, biết được thời tiết nắng gió, ngửi mùi nước bốc lên từ sớm tinh mơ là phán đoán được luồng cá đi trong ngày, đoán được gió mạnh và giật cỡ nào, trời êm hay động.
Chiếc tàu mang số hiệu TG 2032 trong lần ra khơi ấy khuyết mất hai thủy thủ, một anh bỏ tàu về làm trong Công ty Xổ số kiến thiết Tiền Giang do không chịu nổi nắng gió của biển và những tháng ngày xa nhà dù lương thủy thủ khi ấy cao ngất ngưởng, còn một anh nữa do bệnh nên không kịp theo chuyến tàu bão táp ấy. Sau khi nghe tin có bão, nữ thuyền trưởng Hồng đã quyết định cho tàu neo bên hòn Nại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang để “núp”. Thường thì các thuyền trưởng sẽ cho tàu “núp” ở phía nam hòn đảo nếu là gió hướng bắc, và ngược lại, cũng có những khi bão, trời đổi gió, và khi ấy ngư dân đành phó mặc sinh mạng mình cho may rủi, cho biển cả và tay lái của người thuyền trưởng.--PageBreak--
Khi người ta đã tin vào biển, hiểu được biển thì biển không còn là nỗi bí hiểm đe dọa nữa. Ngư dân bình tĩnh đón bão về... Nhưng cơn bão số 5 hay còn gọi là cơn bão Linda đã điên cuồng phá tan sự bình tĩnh ấy. Một cơn bão mà một bà lão ngư dân hơn 90 tuổi ở hòn Nại Sơn đã phải thốt lên rằng “bà đến ở hòn Nại Sơn này từ khi chưa có người ở, đây là cơn bão mà bà chưa từng thấy trong đời”.
Mùng 2 bão đến. Kinh hoàng. Sóng cuộn. Gió giật. Những ngư dân đã có cả một đời đi biển cũng bất ngờ trước cơn bão có một không hai ập đến. Nhiều chiếc tàu không kịp kéo neo lên phải dùng dao chặt cả neo để tháo chạy mà cũng không kịp.
Ngày, hơn 300 tàu thuyền vẫn neo đậu bên hòn Nại Sơn “núp” bão. Đêm, từng chiếc đèn bão trên từng chiếc tàu thuyền lớn nhỏ được thắp lên như nhen nhóm chút hy vọng chờ bão tan. Đêm tối như mực, bão vẫn mạnh, mang từng cột nước khổng lồ quật vào những con tàu. Từ trên con tàu loi nhoi trên lưng sóng, chị Hồng cố căng mắt nhìn ra bốn phía, không thấy bóng dáng một chiếc tàu thuyền nào, chỉ thấy những chiếc đèn bão le lói lảo đảo. Rồi sóng lại cuộn, gió lại giật liên hồi, từng chiếc đèn bão một cứ chìm dần xuống biển sâu. Nghe tiếng la hét kêu cứu từ mặt biển cất lên vô vọng lẫn trong tiếng gào thét của sóng dữ...
Vẫn giữ chặt vô lăng con tàu TG 2032, chị Hồng vừa lệnh cho những thủy thủ trên tàu quăng phao xuống biển cứu người. 34 người đã may mắn thoát khỏi cơn thịnh nộ của "thần biển". Hàng chục tấn cá trên tàu, các thủy thủ đã phải đổ xuống biển để cứu gần 40 mạng người. Suốt đêm đó, thuyền trưởng Hồng vừa phải căng mắt theo dõi hướng gió, vừa dùng hết sức bình sinh, cả tay lẫn chân để điều khiển con tàu, cả tàu và người đều rệu rã. Cuối cùng chiếc tàu cũng qua được đêm bão kinh hoàng đó.
Sáng mùng 3, không còn mấy con tàu nổi trên mặt biển. Sóng vẫn ầm ào cuồn cuộn, gió vẫn giật không ngừng. Thuyền trưởng Hồng quyết định cho tàu mở đường máu chạy khỏi vùng tâm bão... Chiếc tàu và gần 40 con người thoát nạn.
Tự cho mình là người có tinh thần thép, người phụ nữ cứng rắn và thực tế là như vậy, thế mà mỗi lần chị kể về cơn bão đó là mỗi lần mắt chị lại rơm rớm. Đau chứ! Chị đã từng chứng kiến bên một bàn thờ xếp cạnh nhau 3 bát nhang, những đứa trẻ bơ vơ hướng ánh mắt khắc khoải chờ ba và các anh từ biển trở về.
Sau bão, nữ thuyền trưởng rời tàu, cùng các đoàn từ thiện đi cứu trợ khắp các nơi từ đầu miệt Cà Mau đến cuối miệt Kiên Giang. Đến đâu, chị cũng chỉ thấy một màu tang tóc! Chị bảo, ngư dân và những người đi biển sau này phải nhớ, nhớ mãi cơn bão này, một bài học quá đắt cho những ngư dân một đời theo biển để sinh tồn. Biển nuôi đấy và biển cũng sẽ đem sinh mạng những người con của biển đi bất cứ lúc nào.
Đợi ngày sông về với biển
Con tàu TG 2032 sau cơn bão bị hư hỏng nặng, chị đành cho tàu về neo ở bến Mỹ Tho để tu sửa và chờ ngày cho nó cùng chị trở về với biển. Nhưng rồi bao đổi thay của cuộc đời khiến chị vẫn phải xa biển cho đến tận bây giờ.
Tháng 4/2000, chị đã được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lao động nhờ những nỗ lực quên mình cứu người trong đêm mưa bão ấy. Chị cười hồn nhiên: “Ai ở trong hoàn cảnh như mình cũng sẽ làm như vậy thôi”. Nhưng trong suy nghĩ của những ngư dân miền Tây khi ấy, chị là anh hùng của họ, người nữ anh hùng của biển. Chị cùng với 3 thủy thủ, một chú chó đã viết lên câu chuyện huyền thoại trong đêm bão táp đó. Tôi hỏi chị: “Đã bao giờ những ngư dân mà con tàu TG 2032 cứu trong đêm mưa bão ấy đến thăm chị hay chưa?”. Chị lại cười, vẫn một nụ cười hồn hậu: “Mình cũng không nhớ nữa, không biết có ai nhớ đến thăm mình hay không. Mà mình cứu họ đâu phải mong chờ ngày họ sẽ đến thăm mình!”.
Chị không biết thật, bởi từ sau ngày chia tay với biển, chị bôn ba hết Sài Gòn, Tiền Giang, về Bến Tre lại ra Phú Quốc, rồi chị lại bù đầu với những tấm bằng thuyền trưởng đường biển rồi đường sông, lại tất tả cho những mưu sinh thường nhật.
Cũng có lúc chị có ý định cho tàu ra biển. Dự án đánh bắt xa bờ ra đời đã thôi thúc những người yêu biển trở lại với biển, nhưng sau khi đi thực tế, chị thấy không thể “làm ăn” được. Cho tàu ra biển là lỗ nặng. Sau cơn bão, tiền tu sửa con tàu cũng làm chị cạn vốn. Có người nghe tiếng con tàu đến gạ chị với cái giá 700 triệu đồng - khi ấy là một gia tài. Chị thẳng thừng từ chối, con tàu đã trở thành một người bạn, một phần đời của cô cháu chị. Và chị vẫn mơ về với biển...--PageBreak--
Năm 1999, để "hợp thức hóa" chức vụ thuyền trưởng chị đã dành thời gian đi học lấy bằng thuyền trưởng tàu biển Việt
Hôm chị đi nhận danh hiệu Anh hùng Lao động ngoài Hà Nội, chị gặp chị Hoa Lệ, Giám đốc Công ty Du lịch Hòa Bình, cùng ý tưởng mở một đội tàu du lịch trên biển với nhau, hai người anh hùng nhanh chóng có một cuộc trao đổi quanh đề tài ấy. Rồi chị về Công ty Du lịch Hòa Bình làm trong đội... xe, chờ ngày ra biển chỉ huy đội tàu du lịch. Nhưng sau khi cùng chị Hoa Lệ khảo sát, thực tế, rồi những khó khăn về an toàn trên biển khiến hai người quyết định dừng dự án lại. Làm được một vài tháng, công việc công chức 8 tiếng nhàm chán không trói nổi chân chị, chị nhớ biển và nhớ vô lăng, nhớ mùi xăng dầu bốc lên từ khoang máy của những con tàu.
Tháng 6-2004, xuất hiện một ông chủ người Áo với một con tàu du lịch trên sông Sài Gòn mang cái tên "Bonsai" nhưng hình dáng như một chiếc thuyền rồng, với hai tầng rực rỡ đèn hoa, nơi có thể tổ chức những dạ tiệc, hội nghị trên sông với nhà hàng món ăn Việt - Á - Âu, cả một bar rượu, đủ sức chở gần 600 thực khách mỗi chuyến. Trong tính toán của một người kinh doanh có đầu óc, vị chủ người Áo muốn có một người thật đặc biệt chỉ huy con tàu của mình, và ông cho người tìm chị. Ông bảo: chỉ có chị mới đủ “tầm” để chỉ huy con tàu của ông.
Mấy đêm trằn trọc. Đã từng là một chủ tàu, là một thuyền trưởng không nhẽ bây giờ phải đi làm thuê cho người nước ngoài?
Một ngày, chị trở về bên con tàu TG 2032, nhìn nó nằm im lìm, lòng chị quặn lại. Chị phải cứu con tàu, phải đưa nó trở về với biển, nơi nó có thể tung hoành trên sóng. Thế là chị đề nghị với ông chủ người Áo rằng, chị chỉ đồng ý làm cho ông nếu ông đồng ý giúp con tàu của chị trở về với biển. Ông ta vui vẻ đồng ý sau khi nghe những tâm sự rất thật lòng từ chị, và nghe chị kể về con tàu. Ông sẽ giúp chị biến con tàu thành một trong những con tàu du lịch lênh đênh trên biển vào một ngày nào đó...
Đêm. Chị vẫn nghe tiếng biển gào thét, trong ấy, chị nghe cả những tiếng giận dữ của biển cả. Chị rầu rầu: “Bây giờ những người ngư dân đang khai thác quá nhiều của biển. Hết cào lưới, cào bay, thuốc nổ, đèn cao áp... người ta tìm mọi cách để khai thác thủy sản mà không nghĩ rằng họ đang tận diệt tất cả những sinh linh biển cả”. Chị nhớ mãi hình ảnh những ngư dân bẫy bóng mực (trứng mực), người ta vớt cả những chùm trứng mà mực mẹ mới sinh sản hồi đêm. Nếu cái bóng mực ấy được thả xuống biển cả sẽ có hàng ngàn con mực được sinh sôi. Vậy mà người ta bắt hết, diệt hết... nhưng chị cũng hiểu nỗi lòng những ngư dân vùng biển, nguồn cá đang mỗi ngày một kiệt dần, mà họ, ngoài đánh bắt cá cũng không còn biết làm gì để sinh tồn.
Không biết đến bao giờ, vị thuyền trưởng nữ đầu tiên của Việt
