Nguyên Thứ trưởng Bộ Công an Trần Đông: Sống giữa lòng dân

Thứ Tư, 02/05/2012, 10:30
Ông Trần Đông năm nay đã ở tuổi 87. Dù có lúc sức khỏe của ông không được tốt, ông phải nằm trên giường bệnh để được các bác sĩ chăm sóc, nhưng trí tuệ của ông thì vẫn minh mẫn.  Không chỉ thế, ông còn là người rất hóm hỉnh. Câu chuyện của ông có thể khiến chúng tôi cười vui cả buổi.

Theo chân Tổng biên tập - Trung tướng, nhà văn Hữu Ước, chúng tôi đến thăm ông vào một ngày đầu xuân. Đã đôi lần chúng tôi được nghe Trung tướng - nhà văn Hữu Ước kể về ông - một người lãnh đạo thân thiết như một người cha, người chú, đã kiên quyết bảo vệ và luôn luôn cổ vũ, động viên nhà văn Hữu Ước trong những ngày tháng đồng chí gặp “nạn”.

Ông Trần Đông thân mật tiếp đón mọi người trong căn phòng nhỏ của mình. Đó vừa là nơi ông tiếp khách, vừa là nơi ông nằm dưỡng bệnh. Trong phòng là một tủ sách mà nếu hỏi về vị trí cũng như nội dung cuốn sách nào đó, ông đều có thể nói một cách rành rọt, như thể ông vừa đọc nó ngày hôm qua. Chúng tôi nhìn thấy tấm huy hiệu 65 năm tuổi Đảng của ông được đặt trang trọng phía sau cửa kính sáng. Trên tường treo bức ảnh Trần Đông chụp lưu niệm với Bác Hồ và nhiều cán bộ cao cấp khác trong chuyến tháp tùng bảo vệ Bác khi Người thăm Hải Phòng năm 1961 và một bức ảnh ông bà vui vầy cùng gia đình, con cháu. Nhìn bức ảnh đó mới hay, trong gia đình ông, đến nay đã có 3 thế hệ công tác trong lực lượng Công an. Con trai ông mang quân hàm đại tá, còn cháu nội của ông là một thiếu úy trẻ măng. Ông rất vui vì con cháu đã nối nghiệp của mình.

Nguyên Thứ trưởng Trần Đông bảo: “Cách đây không lâu, tôi đã cảm ơn và từ chối cơ quan chức năng và một vài nhà báo nhiệt tình đề nghị viết sách, viết báo về tôi. Nhưng lần này, nhiều bạn bè, người thân khuyên nhủ nên tôi đồng ý”.

Ông sinh năm 1925. Quê ở làng Hòe Thị, xã Đại Hợp, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Tên khai sinh là Bùi Thuyên. Ông là một trong hai đảng viên lớp đầu của xã và là Bí thư Chi bộ đầu tiên của xã Đại Hòe (nay là Đại Hợp). Sớm giác ngộ lý tưởng Cách mạng, với sự gan dạ, mưu trí của mình, ông đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng ở địa phương khi tuổi đời còn rất trẻ. 28 tuổi ông đã giữ chức vụ Trưởng ty Công an Hải Phòng.

Ông bà Trần Đông cùng các con cháu.

Năm 1955, làm Trưởng đoàn trật tự gồm 153 cán bộ, sĩ quan đại diện cho phía Việt Nam vào Hải Phòng trước 5 ngày để nhận bàn giao với đại diện phía Liên hiệp Pháp về trật tự trị an của thành phố. Sau đó, ông liên tục giữ các chức vụ quan trọng khác như Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Thứ trưởng thứ nhất Bộ Tư pháp, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam các khóa IV, V, VI…

Với lực lượng Công an, ông đã gắn bó khoảng thời gian dài nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Cho dù nghề Công an đối với ông là “sang ngang” thôi, chứ không phải công việc ban đầu ông theo đuổi. Từ Thành ủy viên, Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hải  Phòng, ông được phân công làm Giám đốc Công an tới 16 năm liền. Cho nên, nhắc tới các địa bàn hoạt động ở Hải Phòng, cho tới tận bây giờ khi đã ở tuổi xưa nay hiếm, ông vẫn thuộc nằm lòng. Sau này làm lãnh đạo ngành, ông luôn vận dụng những kinh nghiệm đã có sau nhiều năm tháng lăn lộn trong phong trào quần chúng, ở chiến trường vào công việc của mình.

Bài học kinh nghiệm cốt lõi về xây dựng lực lượng Công an của ông là, phải xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy - những người thật sự có đức, có tài, quy tụ được mọi tài năng, phát huy được mọi trí tuệ, đoàn kết và động viên được mọi người. Điều cốt tử hơn nữa đối với người công an là phải dựa hẳn vào nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.

Trong câu chuyện của mình, lúc nào ông cũng nhấn mạnh bài học về lòng dân: “Người lãnh đạo phải luôn ghi nhớ “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Được lòng dân thì việc khó khăn đến đâu cũng có thể hoàn thành tốt. Lúc đương nhiệm, tôi đến với những ông “to tướng” có khi chỉ là vì quan hệ công việc thôi, còn những người dân nghèo sát đất tôi vẫn gần gũi, thương mến họ. Mình không gần dân làm sao có thể hiểu được lòng dân. CAND cũng từ nhân dân mà ra, là con em của giai cấp công nhân và nhân dân lao động mà ra”.

Nói một cách chính xác thì trong suốt cuộc đời mình, thời gian ông làm lãnh đạo nhiều hơn là thời gian làm lính. Ở môi trường công tác nào ông cũng được cấp trên tín nhiệm, cấp dưới yêu mến. Một người lãnh đạo giỏi được ghi nhận, theo ông trước tiên là người nói phải đi đôi với làm, có dũng khí, nếu sai thì phải thẳng thắn thừa nhận và sửa chữa. Và quan trọng là phải có lập trường vững vàng. Nếu sợ bóng sợ vía thì không làm được lãnh đạo.

“Với người lãnh đạo, Bác Hồ của chúng ta bao giờ cũng nhấn mạnh về việc tu thân. Không tu thân, không thật sự gương mẫu thì anh sẽ không bao giờ thu phục hay quy tụ được ai cả. Chỉ có những người lãnh đạo thật sự có đức, có tài năng thì mới quy tụ được những tài năng mà thôi. Đối với tự mình, trong cuộc họp mặt của cơ quan đối ngoại, có đồng chí cao tuổi trong chúng tôi đã nói: đối ngoại đã khó, đối nội còn khó hơn, nhưng đối với tự mình còn khó hơn nhiều. Thời tôi còn làm lãnh đạo, một số nơi đưa quà đến biếu lãnh đạo, có nơi đưa đến biếu hai tạ gạo nếp, tôi yêu cầu không được mang cho lãnh đạo mà lấy gạo đó gói bánh để tiếp các cán bộ công an hưu trí và anh em trong dịp họp mặt đầu xuân”.

Ông tâm tình, đời người ai cũng có lúc khó khăn. Bản thân ông cũng đã từng trải qua những giai đoạn vô cùng gian khổ, thiếu thốn, mất mát trong đời riêng. Ông lập gia đình rất sớm, do bố mẹ sắp đặt. Rồi ông để người vợ hiền ở quê mà đi làm cách mạng suốt năm suốt tháng. Một đời ngang dọc, những ngày được ở nhà bên gia đình và người thân của ông rất ngắn ngủi. Ông bà có hai người con một trai một gái, nhưng con gái ông đã mất vì bệnh đậu mùa. Gạt đi những đau buồn ấy, ông vẫn kiên trì với con đường phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng mà mình đã lựa chọn.

Nói về những khó khăn, ông chia sẻ: “Tôi gặp không ít chuyện khó khăn trên đường đời, nhưng chưa khi nào tôi coi mình là khó khăn nhất. Tôi luôn nhìn thấy nhiều người còn khổ hơn mình trong mọi chuyện. Người công an cách mạng đừng bao giờ kêu ca vì khó khăn mà hãy tìm cách khắc phục những khó khăn ấy”.

Những năm hoạt động trong vùng địch, có những phụ nữ đem lòng yêu thương, muốn chăm sóc, đùm bọc, nhưng ông đều lảng tránh. Ông kể: “Tôi đi đến đâu cũng có người phụ nữ yêu thương mình. Có bà sau này gặp lại còn trách tôi sao ngày đó nghiêm quá. Tôi chỉ cười thôi. Thực lòng thì mình cũng là một người đàn ông chứ có phải sắt đá đâu, sao không thể cảm nhận được những tình cảm đẹp mà người khác dành cho mình? Nhưng tôi nghĩ thế này, chiến tranh liên miên, rồi môi trường công tác nguy hiểm, mình có thể gặp bất cứ chuyện gì, nên đừng làm khổ người khác và làm khổ chính mình. Hơn nữa, mình lại đã có một người phụ nữ đang ở nhà chờ đợi mình, và cũng phải chịu đựng những gian khổ thiệt thòi”. Nên mới có chuyện, sau này khi đã về hưu, vào những ngày lễ tết, có tới hàng chục người bạn của vợ chồng ông thường tới nhà chơi, tổ chức liên hoan. Nhiều bà thú nhận là lúc ông còn trẻ “mê” ông lắm mà không dám bày tỏ, vì ông nghiêm quá. Khi ông hóm hỉnh kể lại câu chuyện này với chúng tôi, người vợ hiền của ông cũng ngồi bên cạnh. Bà Trần Đông năm nay đã vào tuổi hiếm trên đời rồi, và cứ liên tục đưa tay gạt nước mắt. Bà xúc động vì tình yêu chung thủy mà ông đã dành cho bà.

Cả đời đi làm cách mạng, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng, song chưa bao giờ ông lơ là việc gia đình. Ông rất xem trọng nền nếp gia đình, chăm sóc con cháu khi có thời gian, điều kiện. Gia đình ông bà lúc nào cũng vui vẻ, yên ấm. “Nguyên tắc của gia đình tôi là không bao giờ được phép trách mắng nhau trong bữa ăn và khi nhà có khách. Tôi cũng chưa bao giờ đánh vợ hay đánh con cả”.

Sống an nhiên với cuộc đời, hoàn thành mọi trách nhiệm của mình từ gia đình tới xã hội như ông, quả không dễ chút nào. Bây giờ về hưu, ông vẫn luôn cố gắng rèn luyện sức khỏe hàng ngày để làm chỗ dựa tinh thần giúp con cháu làm việc, làm người có ích cho xã hội. Và sức khỏe được ông quan niệm, đó không chỉ là sức mạnh cơ bắp đơn thuần, mà còn là sự dễ chịu về tinh thần, thể chất và quan hệ gia đình, xã hội. Để có được sự “dễ chịu” ấy, con người phải thực sự sống thanh thản, an nhiên với cuộc đời, với mọi người xung quanh.

Trong cuốn sách Sống giữa lòng dân sắp được xuất bản, tập hợp những tư liệu quý về cuộc đời hoạt động cách mạng của ông, đặc biệt là những bài nói, bài phát biểu của ông về các vấn đề hệ trọng của đất nước, của lực lượng Công an, chúng ta còn bất ngờ gặp những bài thơ trữ tình ông sáng tác. Thì ra, người lãnh đạo suốt đời gắn bó với công việc tưởng chừng như nghiêm khắc, khô khan ấy lại là người có tâm hồn lãng mạn và trái tim thi sĩ.

Những ngày tháng học tập tại Học viện An ninh Liên Xô (1962-1963), ông đã viết những câu thơ đẹp về lực lượng Công an, về lý tưởng mà mình suốt đời theo đuổi: “Chúng tôi/ đất nước chưa giàu/ đội ngũ chưa đông/ đối mặt với kẻ thù nhiều loại/ khó khăn chồng chất/ thắng lợi vẻ vang/ đường còn dài lắm…”. Và ông gửi gắm: “Nâng niu hoa - chăm sóc cả vườn hoa/ Đây vườn hoa - chủ nghĩa xã hội/ Người giữ vườn - người Công an chúng ta…”. Rất nhiều bài thơ là cảm xúc bất chợt đến trong giây phút nghỉ ngơi thư giãn của người bận trăm công ngàn việc, ông chỉ giữ cho riêng mình. Ngay cả khi Sống giữa lòng dân sắp được xuất bản, thì cuốn sách đó cũng chỉ khiêm tốn đề: “Sách lưu niệm trong gia đình, người thân, không bán”

Vũ Quỳnh Trang
.
.
.