Người trưởng ban An ninh đặc khu kiên cường

Thứ Tư, 18/05/2011, 15:09
Chiến tranh đã lùi vào quá khứ 36 năm, khói lửa của đạn bom giờ đây chỉ còn là ký ức của bao người nhưng khi nhắc tới thời oanh liệt ấy, không ít CBCS Ban An ninh Đặc khu Quảng Đà (BANĐKQĐ) lại bồi hồi, xúc động tưởng nhớ đến người anh cả đã vĩnh viễn đi xa.

Nghiêm túc và kỷ cương, thương yêu đồng đội, thông minh, táo bạo trong đánh địch là những yếu tố được hội tụ trong con người của Hoàng Văn Lai, nguyên Trưởng ty Công an tỉnh QN-ĐN. Chính vì vậy mà vừa qua, Đảng ủy CATW và lãnh đạo Bộ Công an đã đề nghị Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho liệt sĩ Hoàng Văn Lai.

Nhiều thắng lợi tại chiến trường ác liệt

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống giàu lòng yêu nước tại thôn Giảng Hòa, xã Đại Thắng, Đại Lộc, Quảng Nam, Hoàng Văn Lai đã nhìn thấy cảnh dân tộc ta đắm chìm trong sự bất công, nô lệ. Bọn cường hào, ác bá và chế độ thực dân đã biến dân ta thành kiếp bần hàn nên ông đã sớm giác ngộ cách mạng. 23 tuổi, ông thoát ly, vận động nhân dân đấu tranh chống áp bức, bóc lột, đánh đuổi bọn cướp nước.

Tham gia công tác, chiến đấu tại địa phương một thời gian, sau đó tập kết ra Bắc. Đầu năm 1960, chiến trường tỉnh Quảng Đà diễn ra vô cùng khốc liệt. Bọn Mỹ-ngụy ra sức càn quét, phá vỡ các cơ sở cách mạng, đàn áp, bắn giết nhân dân hết sức man rợ. Nắm được những thông tin này, ông luôn khát khao trở lại chiến trường quê hương đầy máu lửa để cùng với dân bám đất, chiến đấu chống kẻ thù.

Với lòng mong muốn ấy, một buổi sáng trung tuần tháng 3, ông tìm đến Ban Thống nhất Trung ương để xin về lại quê hương giữa lúc chiến trường đặc mùi khói đạn. Người cán bộ tiếp ông khuyên: "Đồng chí cứ yên tâm. Nhiệm vụ của đồng chí hiện tại trên đất Bắc cũng rất nặng nề, cũng góp phần quan trọng cho sự nghiệp giải phóng miền Nam đó mà".

Ông nhíu mày nghĩ ngợi một lát rồi giọng như nghẹn lại: "Anh à! Trong lúc những người con thân yêu của miền Bắc đang ngày đêm rầm rập chi viện cho chiến trường miền Nam thì làm sao tôi có thể yên tâm công tác ở đây được. Tôi muốn được trực tiếp cùng bà con quê mình đứng lên cầm súng, có chết cũng cam lòng".

Trước đề nghị thiết tha đó, ông được Ban Thống nhất Trung ương chấp thuận. Ông vượt Trường Sơn về giữ chức Chính trị viên Tiểu đoàn 25, Tỉnh đội Quảng Đà, trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh ác liệt. Cuộc "Chiến tranh đặc biệt" diễn ra, Mỹ ồ ạt chi viện quân sự vào miền Nam.

Lúc này, với vai trò là Phó bí thư Huyện ủy Duy Xuyên, ông đã cùng với Ban Thường vụ chỉ đạo lực lượng vận động quần chúng đấu tranh, hướng vào mục tiêu: đánh đổ bọn ngụy quyền địa phương, tiêu diệt bọn ác ôn, nợ máu, lôi kéo những người bị bắt lính quay về với cách mạng.

Trong công tác diệt ác, trừ gian, ông luôn nhắc nhở lực lượng an ninh, du kích rằng: "Chúng ta chỉ kiên quyết tiêu diệt chính những tên cầm đầu, khát máu có tội ác với nhân dân. Tuyệt đối không được gây tổn hại đến vợ con, người thân của kẻ thù". Với quan điểm chỉ đạo đúng đắn đó, lực lượng an ninh, du kích Duy Xuyên đã lập được nhiều chiến công vang dội và không làm oan một người nào.

Tại Đại hội Đảng bộ Quảng Đà vào tháng 12/1964, ông được bầu là Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Duy Xuyên. Tuy với cương vị Bí thư, song trong chiến thuật đánh địch, ông lại có nhiều kinh nghiệm về nghiệp vụ của ngành an ninh. Đêm 24/2/1966, ông chỉ đạo các lực lượng vũ trang tấn công vào Chi khu Duy Xuyên, tiêu diệt một số tên ác ôn khét tiếng và bắt sống được Lê Công Khanh, Chi khu trưởng đưa ra hậu cứ.

Trên đường dẫn giải, Khanh run cầm cập và luôn nghĩ cuộc đời mình sẽ chấm dứt bởi Việt cộng sẽ không dung tha một kẻ như ông. Sau khi được các cán bộ an ninh huyện hỏi cung, khai thác nhiều vấn đề quan trọng, Khanh được gặp trực tiếp Hoàng Văn Lai. Ông hỏi: "Ông Khanh nè, việc làm của ông có chính nghĩa không mà suốt ngày ông lại cho quân lính cứ ra rả trên loa phóng thanh rằng, hỡi anh em Việt cộng hãy quay về với chính nghĩa quốc gia?".

Lê Công Khanh cúi đầu, im lặng. Biết Khanh là con chiên ngoan đạo, có uy tín với giáo dân Trà Kiệu, ông hỏi Khanh: "Ông có muốn cách mạng cho về sống với gia đình, vợ con không?". Ông ta không nói gì, bởi cứ tưởng đó chỉ là những lời đùa cợt của vị Bí thư Huyện ủy. Thế là Khanh được phóng thích về lại gia đình của y. Việc làm này không chỉ có ảnh hưởng lớn đến thái độ chính trị của Khanh mà bà con Công giáo Trà Kiệu và binh lính, ngụy quyền nhận thức rõ hơn chính sách khoan hồng của cách mạng.

Tháng 8/1968, ông được giao giữ chức Trưởng Ban An ninh Đặc khu Quảng Đà (BANĐKQĐ). Thời kỳ này cũng là lúc địch điên cuồng tăng cường lực lượng càn quét, đánh phá liên tục trên diện rộng, dồn dân vào các khu ấp "chiến lược, phá hoại hoa màu, biến nông thôn thành các vùng đất trắng. Nhiều cơ sở cách mạng, hầm bí mật bị địch phát hiện, không ít cán bộ bị bắt giữ.

Chiến trường Đặc khu Quảng Đà diễn ra dữ dội và ác liệt hơn bao giờ hết, tổn thất của cách mạng không nhỏ. Hoàng Văn Lai chỉ đạo lực lượng điều tra cơ bản các tổ chức của địch có hệ thống, phân công điệp báo, trinh sát bố trí cơ sở theo dõi quy luật hoạt động của bọn cầm đầu ngụy quân, ngụy quyền để có kế hoạch tiêu diệt khi đủ điều kiện.

Mặt khác phải kết hợp chặt chẽ 3 mũi giáp công để từng bước làm tan rã bộ máy đàn áp của địch, nhằm vào đối tượng của an ninh. Ông luôn dặn dò: "Chúng ta không chỉ có đánh trúng mà cái quan trọng hơn là phải đánh thật hiểm, nhằm vào các tên ác ôn, khát máu, thọc sâu vào tận hang ổ, sào huyệt của địch mới làm lung lay ý chí tàn sát của kẻ thù".

Ông giao nhiệm vụ cho lực lượng BANĐKQĐ chọn và trừng trị bọn ác ôn nguy hiểm từ cấp quận, huyện, thị xã trở lên, số còn lại giao cho an ninh cấp dưới. Lực lượng BANĐKQĐ đã kiên quyết bám đất, dựa vào dân để tiêu diệt địch ở khắp địa bàn tỉnh, trong đó trọng điểm là Đà Nẵng và các thị xã, thị trấn; tổ chức nhiều phương án đánh địch rất khác nhau trong từng điều kiện, hoàn cảnh, làm cho địch khó bề lường trước.

Lực lượng an ninh bất ngờ tấn công vào trụ sở CIA của Mỹ tại Đà Nẵng, đánh vào trụ sở tình báo "Phượng hoàng" ngụy, thu nhiều tài liệu tối mật của chúng. Ông chỉ đạo lực lượng an ninh toàn tỉnh triển khai nhiều trận đánh hết sức táo bạo.

Một số cán bộ, cơ sở cách mạng không chịu đựng được gian khổ đã phản bội, đầu hàng địch, trong đó có cả quận ủy viên, làm cho mạng lưới an ninh nội thành gặp rất nhiều khó khăn, có người phải hy sinh, có người bị địch bắt tra khảo dã man. Một số trinh sát hoạt động bí mật trong lòng địch bị lộ nên phải rút về tuyến sau.

Ông chỉ đạo lực lượng an ninh các quận bằng mọi giá phải trừng trị bọn chiêu hồi, chỉ điểm và một số tên đã bị tiêu diệt. Cuối năm 1971, địch phát hiện được căn cứ cách mạng Hòn Tàu, Duy Xuyên, nơi Đặc khu uỷ Quảng Đà làm việc nên 1 sư đoàn bộ binh Mỹ đổ quân vây ráp căn cứ Hòn Tàu hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của tỉnh.

Để bảo vệ an toàn cán bộ lãnh đạo Đặc khu, ông trực tiếp chỉ huy 2 Đại đội trinh sát vũ trang C113, C114 anh dũng chiến đấu, đánh lui nhiều đợt phản công của Mỹ với hỏa lực mạnh gấp nhiều lần. Vừa cầm cự chiến đấu, ông vừa chỉ đạo lực lượng an ninh mở đường di chuyển các vị lãnh đạo đến địa điểm an toàn.

Để chuẩn bị giải phóng Đà Nẵng, ông quyết định di chuyển trụ sở của BANĐKQĐ từ căn cứ Hòn Tàu về tại Thanh Quýt, Điện Bàn và cử trinh sát vào lót trước trong nội thành. Sáng 29/3/1975, 4 đại đội của BANĐKQĐ: C110, C111, C113 và C114 đồng loạt tấn công vào Đà Nẵng, chiếm lĩnh các trụ sở của địch. Riêng ông chỉ huy một cánh quân tiếp quản Ty Cảnh sát Gia Long, nơi có nhiều tài liệu mật quan trọng, đồng thời chỉ đạo truy bắt bọn ác ôn, đảng phái chống đối.

Chỉ đạo phá các tổ chức phản động sau giải phóng

 Đà Nẵng giải phóng, tuy nhiên vẫn còn khá nhiều kẻ cố tình không chịu khai báo, lén lút chống đối. Trong số này có tên Trần Quốc Dân, Bí thư Việt Nam Quốc dân đảng. Hắn cùng với các thuộc hạ bí mật nhen nhóm ngọn lửa hận thù, chống phá quyết liệt.

Tối ngày 4/4/1975, Dân cùng cánh đàn em trong tổ chức đột nhập trụ sở Chi bộ Quốc dân đảng để lấy tài liệu, giấu vũ khí, điện đài thì bị quân ta tóm gọn. Sau khi khai thác, ông chỉ đạo đưa Dân lên đài phát thanh để hắn kêu gọi số Quốc dân đảng còn trốn tránh ra đầu thú với chính quyền cách mạng. Và đúng như dự báo của ông, sau đó có gần 200 đảng viên Quốc dân đảng đã ra trình diện.

Các tên Phan Thế Đông và Đặng Văn Bình là 2 đối tượng không chịu khai báo. Bọn chúng tập hợp lực lượng lập ra tổ chức phản động "Mặt trận cứu quốc" nhằm lật đổ chính quyền. Chúng in ấn truyền đơn, xây dựng cương lĩnh, chuẩn bị vũ khí chờ cơ hội.

Chúng móc nối với tên Từ Toại ở Hội An, cầm đầu nhóm phản động "Thanh niên phục quốc" bàn tính sẽ rải truyền đơn kêu gọi tại các khu vực công cộng, các nhà thờ tụ tập đông giáo dân, đặt mìn phá các kho xăng trên địa bàn thành phố vào dịp Quốc khánh 2/9 thì ngày 1/9/1975, ông chỉ đạo lực lượng triệt phá, bắt giữ toàn bộ đối tượng trước khi chúng hành động.

Nguyễn Văn Bảy là sĩ quan tâm lý chiến ngụy, luôn được Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Vùng I chiến thuật tin dùng. Trước khi chạy khỏi Đà Nẵng, Trưởng đã bàn với Bảy về kế hoạch hậu chiến để "rửa hận". Nghe lời quan thầy, Bảy lập ra tổ chức phản động "Việt Nam dân tộc cách mạng đảng".

Bọn chúng thảo chính cương, điều lệ, tuyên ngôn cực kỳ phản động để thực hiện mục đích lật đổ chính quyền cách mạng. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, bọn chúng đã có một hệ thống tổ chức từ cấp trung ương tới cấp cơ sở. Tất cả lực lượng chúng đều tuyển chọn, tập hợp, số đối tượng dưới chế độ ngụy quyền Sài Gòn tham gia.

Nguyễn Văn Bảy thành lập Ban chỉ huy quân sự các miền, các tỉnh với 4 bộ máy cấp tiểu đoàn. Ngay từ tháng 10/1977, lực lượng trinh sát đã nắm bắt được một số thông tin về tổ chức này, do đó ông quyết định lập án đấu tranh. Ban chuyên án lúc đầu cử ông Lê Lực, Phó trưởng ty làm Trưởng ban, song diễn biến của tổ chức phản động ngày càng phức tạp, tính chất lại đặc biệt nguy hiểm nên ông trực tiếp làm Trưởng ban để chỉ đạo sát sao hơn.

Nguyễn Văn Bảy lấy vùng rừng núi phía tây huyện Hòa Vang xây dựng "Mật khu Nam Yên" và móc nối với một số tên ở Huế và các tỉnh duyên hải miền Trung để phình to lực lượng. Theo dự định của bọn chúng, ngày 30/12/1977 sẽ "tổng khởi nghĩa", cướp chính quyền bằng bạo lực quân sự. Để ngăn chặn mưu mô này, đồng thời phục vụ cho công tác phá vỡ toàn bộ tổ chức của chúng đang ẩn nấp tại các vùng rừng núi rộng lớn, ông đề nghị với lãnh đạo Bộ Công an cho bắt Nguyễn Văn Bảy để đấu tranh.

Tên Bảy bị bắt. Tổ chức phản động phải co lại, án binh bất động một thời gian, sau đó Nguyễn An Dân lên thay chức "Chủ tịch mặt trận" của Bảy để tiếp tục duy trì chống phá cách mạng. Ngày 7/7/1978, ông chỉ đạo lực lượng công an QN-ĐN đồng loạt tấn công vào "Mật khu Nam Yên", bắt giữ tại chỗ 35 tên, thu nhiều vũ khí, khí tài và các danh sách cán bộ cách mạng chuẩn bị sát hại. Tuy bị đánh dập đầu song tổ chức "Mật cứ Nam Yên" vẫn diễn biến phức tạp. Bọn phản động dựa vào rừng núi hiểm trở để củng cố lại lực lượng.

Ngày 23/7/1978, ông từ Đà Nẵng khẩn cấp vào "Mật khu Nam Yên" để chỉ đạo trực tiếp lực lượng truy bắt số tên còn lại nhưng trên đường tới trận tuyến, ông đã bị tai nạn, hy sinh. Tổ chức phản động bị triệt hạ, đè bẹp ý chí lội ngược dòng của chúng. Nguyễn Văn Bảy cùng 5 tên cầm đầu trong tổ chức bị Tòa phúc thẩm tuyên phạt tử hình.

Những chiến công vang dội của BANĐKQĐ đều gắn với tên tuổi của ông. Suốt chặng đường dài thoát ly kháng chiến và phục vụ trong lực lượng CAND, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, ông vẫn vững vàng ý chí cách mạng, kiên định con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, trung thành với Đảng, dũng cảm, mưu lược trong đối sách với kẻ thù, đầy tính nhân văn.

Ở ông luôn tỏa sáng lối sống thanh cao, bình dị và khiêm nhường. Và ông đã hiến dâng trọn đời mình cho sự yên bình của non sông, đất nước

Thái Mỹ
.
.
.